Lý luận - Thực tiễn
Bốn kinh nghiệm thực hiện đánh giá TCCSĐ và đảng viên
8:41' 20/9/2006


Đánh giá đúng chất lượng tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) và đảng viên luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng đảng. Đánh giá đúng là căn cứ để đề ra chủ trương, giải pháp nhằm củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và giáo dục, rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Do vậy, Ban Tổ chức Trung ương đã có Hướng dẫn số 18 về đánh giá chất lượng TCCSĐ và Hướng dẫn số 20 về đánh giá chất lượng đảng viên để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng.

Thực hiện nghiêm, cụ thể hóa phù hợp.

Qua ba năm thực hiện Hướng dẫn số 18 và số 20 (2-9-2003 - 2-9-2006), cho thấy: Cấp uỷ và tổ chức đảng các cấp đã nghiêm túc triển khai, thực hiện thống nhất, có nền nếp hằng năm trong các cơ sở đảng. Ngay khi có hướng dẫn, các tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã ban hành kế hoạch, thông tri hoặc hướng dẫn và lựa chọn phương pháp đánh giá để chỉ đạo thực hiện. Cấp ủy các cấp làm tốt việc quán triệt ý nghĩa, mục đích, yêu cầu, tiêu chuẩn đánh giá gắn với chỉ đạo nâng cao chất lượng TCCSĐ, chi bộ và đảng viên, phục vụ tốt yêu cầu đổi thẻ đảng viên. Ban tổ chức của cấp uỷ đã phối hợp với các ban tham mưu của tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương cụ thể hóa tiêu chuẩn đánh giá thành các tiêu chí, biểu điểm, quy trình sát với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tiễn từng loại hình TCCSĐ, loại hình chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở; xác định tiêu chí đánh giá đảng viên sát với chức trách, nhiệm vụ, trên cơ sở đổi mới nội dung và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình, công khai, dân chủ ở chi bộ đi đôi với tranh thủ ý kiến đóng góp của các tổ chức quần chúng. Việc đánh giá chất lượng TCCSĐ được thực hiện thống nhất bằng phương pháp chấm điểm. Riêng đánh giá chất lượng đảng viên, hầu hết các đảng bộ lựa chọn phương pháp: Đảng viên tự kiểm điểm theo 4 tiêu chuẩn, tự nhận loại trước chi bộ; chi bộ thảo luận, góp ý và lấy ý kiến tín nhiệm bằng phiếu kín để xếp loại đảng viên. Chỉ một số ít đảng bộ đánh giá chất lượng đảng viên bằng phương pháp chấm điểm như Bến Tre, Bạc Liêu.

Sự kết hợp định tính với định lượng, từ các tiêu chuẩn chung cụ thể hóa thành các tiêu chí gắn với thang điểm đã bảo đảm tính chặt chẽ, khách quan, xác thực hơn khi phân tích, đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên, từng bước hạn chế được chủ quan, tùy tiện, bệnh thành tích. Chẳng hạn, nhiều cấp ủy quy định TCCSĐ TSVM phải đạt 80 điểm với các các tiêu chí cụ thể: có trên 2/3 số chi bộ trực thuộc đạt TSVM, không có chi bộ yếu kém; có 2/3 số tổ chức đoàn thể trong đơn vị được xếp loại vững mạnh, tiên tiến, xuất sắc, không có tổ chức đoàn thể yếu kém; tổ chức chính quyền được xếp loại vững mạnh, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu, kế hoạch, không có cấp ủy viên hoặc cán bộ chủ chốt của chính quyền, đoàn thể bị xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên; không có đảng viên, cán bộ công chức của đơn vị vi phạm pháp luật bị truy tố hoặc bị phạt tù… Không ít cấp ủy còn thành lập tổ công tác, phân công cán bộ, chuyên viên theo dõi, hướng dẫn, trực tiếp dự đánh giá tại cơ sở; chỉ đạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban đảng, chính quyền, tổ chức chính trị xã hội và hội đồng thi đua khen thưởng trong đánh giá và thẩm định. Phân công thường vụ cấp ủy theo dõi giúp TCCSĐ khắc phục yếu kém…

Trước khi tiến hành kiểm điểm, đánh giá, các đảng bộ, chi bộ đã chỉ đạo chính quyền và các đoàn thể tổng kết công tác năm, bình xét, xếp loại thi đua; tổ chức lấy ý kiến tham gia xây dựng đảng của ban chấp hành đoàn thể, đại diện quần chúng để có thêm cơ sở giúp chi bộ, đảng bộ kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ trong năm, tự chấm điểm đánh giá chất lượng gắn với bình xét, đề nghị khen thưởng được khách quan, xác thực hơn.

Căn cứ đề nghị của tổ chức đảng về kết quả đánh giá chất lượng đảng viên, chi bộ và TCCSĐ, cấp uỷ cấp trên tiến hành thẩm định, lấy ý kiến của chính quyền, đoàn thể cùng cấp trước khi xét quyết định xếp loại đảng viên, chi bộ và TCCSĐ gắn với biểu dương, khen thưởng đảng viên xuất sắc và TCCSĐ TSVM tiêu biểu.

Hằng năm các cấp uỷ đều tiến hành sơ kết rút kinh nghiệm, bổ sung kế hoạch, biện pháp chỉ đạo nhằm đánh giá sát, đúng chất lượng hoạt động của tổ chức đảng và kết quả phấn đấu rèn luyện của đảng viên. Trên cơ sở đó đề ra chủ trương, biện pháp khắc phục những mặt còn hạn chế; nhất là chỉ đạo giải quyết chi bộ, đảng bộ cơ sở yếu kém; xác định rõ yêu cầu, nội dung, định thời gian giáo dục, giúp đỡ đảng viên có mặt còn hạn chế, đảng viên vi phạm khuyết điểm sửa chữa khuyết điểm.

Đánh giá chất lượng sát với thực tế.

Thực tế ba năm qua khẳng định: Nơi nào cấp ủy và tổ chức đảng bám sát hướng dẫn của Trung ương, đồng thời coi trọng vận dụng, cụ thể hóa những tiêu chuẩn chung thành các tiêu chí có định lượng rõ ràng, phù hợp với điều kiện địa phương, đơn vị thì việc đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên sát thực hơn, giúp cấp uỷ cấp trên hiểu rõ tổ chức đảng cấp dưới và nắm chắc hơn chất lượng đảng viên ở từng cơ sở. Qua đó, đề ra chủ trương, biện pháp cụ thể, thiết thực bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên và xây dựng, củng cố TCCSĐ.

Kết quả đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên từ 2003 đến 2005 cho thấy: Tỷ lệ TCCSĐ được đánh giá ngày một tăng: Năm 2003 có 97,86%, năm 2004 tăng lên 98,39% và đến năm 2005 là 99,03%. Tỷ lệ TCCSĐ đạt TSVM từ  77,8% năm 2003, tăng lên 80,49% năm 2005 (so với tổng số TCCSĐ được đánh giá). Tỷ lệ TCCSĐ yếu kém giảm từ 1,37% (638) năm 2003 xuống còn 0,83% (421) năm 2005.

Tương tự, tỷ lệ chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở được đánh giá tăng từ 98,39% năm 2003 lên 99,95% năm 2005. Trong đó, số chi bộ đạt TSVM năm 2005 là 79,52% so với tổng số chi bộ được đánh giá, tăng 1,85% so với năm 2004 và 3,46% so với năm 2003. Tỷ lệ chi bộ yếu kém năm 2005 chiếm 0,41%, giảm so với năm 2004 là 0,19% và năm 2003 là 0,04%.

Tỷ lệ đảng viên được đánh giá cũng tăng từ 96,74% năm 2003 lên 97,72% năm 2005. Theo đó, số đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2003 đạt 67,89% (trong đó có 15,53% đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ), năm 2004 có 71,71% và năm 2005 tăng lên 74,66% (có 17,23%  đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ). Tỷ lệ đảng viên đủ tư cách, có mặt còn hạn chế giảm từ 10,82% năm 2003 xuống 6,76% năm 2005. Tỷ lệ đảng viên vi phạm tư cách cũng giảm từ 0,97% xuống 0,68% năm 2005.  

Ba năm qua, do có sự chỉ đạo cụ thể của các cấp uỷ đề ra yêu cầu, nội dung, định rõ thời gian củng cố nên các đảng bộ đã giúp 655 TCCSĐ và 1.222 chi bộ trực thuộc cơ sở khắc phục được yếu kém; giáo dục, giúp đỡ và xét công nhận  317.868 đảng viên đã khắc phục được những mặt còn hạn chế và 24.139 đảng viên vi phạm tư cách sửa chữa khuyết điểm. Đồng thời, qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, đánh giá chất lượng đảng viên đã xử lý đưa ra khỏi Đảng 18.161 đảng viên không đủ tư cách.

Tuy nhiên, một số cấp uỷ đảng chưa nhận thức đầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên, chậm đề ra chủ trương, kế hoạch, hướng dẫn thực hiện; chậm cụ thể hoá các tiêu chuẩn và thiếu thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, sơ kết rút kinh nghiệm; ý thức tự phê bình và phê bình của một bộ phận đảng viên chưa tốt, còn nể nang, né tránh hoặc chạy theo thành tích. Do vậy, kết quả đánh giá không đồng đều ở các đảng bộ, phản ảnh chưa thật đúng chất lượng tổ chức đảng và đảng viên. Có nơi tỷ lệ TCCSĐ được đánh giá đạt TSVM rất cao, nhưng tỷ lệ đảng viên được đánh giá đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ hoặc tỷ lệ đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lại đạt thấp và ngược lại…

Bốn kinh nghiệm.

Từ những kết quả cũng như những mặt còn hạn chế, sau ba năm thực hiện Hướng dẫn số 18 và 20 của Ban Tổ chức Trung ương về đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên, có thể rút ra bốn bài học kinh nghiệm sau:

Một là, phải quán triệt đầy đủ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung, phương pháp đánh giá đến từng TCCSĐ và đảng viên. Từ đó, làm tốt công tác chính trị tư tưởng, tạo sự chuyển biến nhận thức cho cán bộ, đảng viên, trên cơ sở thực hiện tốt tự phê bình và phê bình để đánh giá đúng chất lượng hoạt động của tổ chức đảng và kết quả thực hiện nhiệm vụ của đảng viên.

Hai là, phải cụ thể hoá nội dung đánh giá thành các tiêu chí, biểu điểm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình TCCSĐ và chức trách, nhiệm vụ của đảng viên. Phải gắn việc đánh giá chất lượng TCCSĐ, đảng viên với xây dựng TCCSĐ TSVM và giải quyết cơ sở đảng yếu kém, giáo dục, giúp đỡ đảng viên có mặt còn hạn chế, đảng viên vi phạm tư cách sửa chữa khuyết điểm phấn đấu vươn lên. Đó là nội dung bảo đảm thực hiện hiệu quả việc đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên.

Ba là, xây dựng và thực hiện nghiêm quy trình đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên; các cơ quan tham mưu cần phối hợp chặt chẽ trong việc hướng dẫn cơ sở. Phải trên cơ sở thực hiện tự phê bình và phê bình ở chi bộ gắn với lấy ý kiến các tổ chức trong hệ thống chính trị và đại diện quần chúng ở cơ sở góp ý, nhận xét tổ chức đảng, đảng viên. Phải thẩm định chặt chẽ kết quả đánh giá TCCSĐ và đảng viên.

Bốn là, cấp uỷ cấp trên, trước hết là cấp trên trực tiếp của cơ sở phải thường xuyên kiểm tra, kịp thời biểu dương nơi làm tốt, uốn nắn những thiếu sót; coi trọng sơ kết rút kinh nghiệm để kịp thời bổ sung kế hoạch, biện pháp chỉ đạo, bảo đảm thực hiện nền nếp, chất lượng công tác đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên.

 Trên cơ sở sơ kết rút kinh nghiệm ba năm thực hiện và kế thừa Hướng dẫn số 18 và số 20, đồng thời tiếp thu những đề xuất của các cấp ủy đảng trước yêu cầu thực tế đặt ra, Ban Tổ chức Trung ương tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn theo hướng gọn, kết cấu rõ ràng, với tinh thần đổi mới nội dung, phương pháp, giúp thực hiện chặt chẽ, nền nếp, chất lượng đánh giá TCCSĐ và đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ và đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

PHÚC SƠN
Bài cùng chuyên mục
Quyết và làm    (20/9/2006)
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS