Phú Thọ là một tỉnh miền núi trung du phía Bắc Tổ quốc, cội nguồn của dân tộc Việt Nam, nơi hình thành Nhà nước Văn Lang, Nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam với 18 đời vua Hùng.
Phát huy truyền thống lịch sử của mảnh đất cội nguồn, đền đáp công ơn của cha rồng, mẹ tiên, gần 1,3 triệu người con Phú Thọ, gồm 21 dân tộc anh em luôn đoàn kết, thương yêu nhau, góp sức phát triển các xã vùng cao, miền núi. Tỉnh Phú Thọ có 8/10 huyện, với 215 xã, phường, thị trấn miền núi; 7 xã với 30 bản vùng cao. Đến nay, các xã miền núi khu vực III của Tỉnh đều đã thành lập đảng bộ cơ sở, gồm 270 chi bộ nông thôn và 96 chi bộ trường học, trạm y tế. Trong tổng số 5.869 đảng viên các xã miền núi, khu vực III (tính đến cuối năm 2005) có 65,8% số đảng viên là người dân tộc thiểu số (chiếm 54,28% đảng viên là dân tộc thiểu số toàn Tỉnh).
Nhận thức rõ việc phát triển đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên để bổ sung nguồn sinh lực mới cho Đảng, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, những năm qua các cấp uỷ cơ sở đã tổ chức triển khai đồng bộ từ xây dựng kế hoạch tạo nguồn, giới thiệu và bồi dưỡng cảm tình, phân công đảng viên theo dõi, giúp đỡ quần chúng đến kết nạp đảng viên, coi kết quả kết nạp đảng viên là chỉ tiêu quan trọng khi xem xét, phân loại TCCSĐ, chi bộ trong sạch, vững mạnh hằng năm. Các tổ chức đoàn thể ở cơ sở đã nêu cao tinh thần trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng, đẩy mạnh công tác thi đua, tổ chức các phong trào hành động cách mạng. Qua đó, phát hiện quần chúng ưu tú giới thiệu cho chi bộ xem xét kết nạp vào Đảng. Vì vậy, số lượng quần chúng ưu tú giới thiệu cho Đảng ngày càng nhiều, chất lượng nguồn, tỷ lệ nữ, tỷ lệ tuổi trẻ ngày càng được nâng cao. Từ 1998 đến nay, các đoàn thể ở các xã miền núi khu vực III đã giới thiệu với tổ chức đảng để cử đi học lớp tìm hiểu về Đảng 5.740 quần chúng, trong đó có 1.842 nữ (32,1%), 2.916 đoàn viên thanh niên (50,8%).
Các cấp uỷ cấp trên đã chú ý đến công tác kiểm tra, đôn đốc cấp uỷ cơ sở về công tác phát triển đảng viên. Nhiều cấp uỷ triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, chương trình hành động số 05-CT/TU về “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ giai đoạn 2001-2005”; xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án phát triển đảng viên ở vùng sâu, vùng xa, nơi chưa có đảng viên hoặc chưa đủ đảng viên để thành lập chi bộ. Trong hai năm (2004-2005), các đảng bộ cơ sở thuộc khu vực III đã kết nạp được 852 đảng viên (bằng 36,7% so với số đảng viên kết nạp từ năm 1998 đến 2005).
Tuy nhiên, trong chỉ đạo và thực hiện công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên ở các xã khu vực III của Tỉnh cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế. Đến nay, vẫn còn 5 khu dân cư chưa có đảng viên, 48 khu dân cư chưa đủ đảng viên để thành lập chi bộ, 58 khu dân cư có đủ đảng viên để thành lập chi bộ nhưng chưa tách thành chi bộ riêng. Công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên và các đoàn thể nhân dân chưa thường xuyên, thiếu chiều sâu. Nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận và các đoàn thể nhân dân chậm đổi mới, chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn thể còn hạn chế. Việc kiểm tra, rà soát chất lượng nguồn của cấp uỷ cơ sở chưa được chú trọng, trách nhiệm của đảng viên được phân công theo dõi, giúp đỡ đối tượng chưa cao, nên số lượng nguồn tuy nhiều nhưng chất lượng còn thấp, tỷ lệ quần chúng ưu tú được kết nạp vào Đảng chỉ đạt 36,2% so với tổng số quần chúng đã được học lớp bồi dưỡng tìm hiểu về Đảng. Chất lượng đảng viên mới kết nạp còn nhiều hạn chế cả về trình độ, năng lực và cơ cấu. Trong số đảng viên mới kết nạp từ 1998 trở lại đây chỉ có 53,4% có trình độ trung học phổ thông; hầu hết số đảng viên mới chưa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tỷ lệ đảng viên nữ mới kết nạp chỉ đạt 28,4%. Nhìn chung chất lượng cán bộ, đảng viên ở các xã miền núi khu vực III đều thấp hơn so với mặt bằng bình quân chung toàn Tỉnh, nhất là trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị. Cho đến nay còn 12,9% số đảng viên có trình độ văn hoá tiểu học, 3,69% số đảng viên có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, số có trình độ lý luận chính trị trung cấp chiếm 5%, cao cấp 0,1%. Đây là khó khăn lớn trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Một số cấp uỷ chưa xây dựng được kế hoạch tạo nguồn phát triển đảng viên, thiếu các biện pháp cụ thể, nên kết quả đạt thấp. Nhiều chi bộ khu dân cư hằng năm không kết nạp được đảng viên. Một số khu còn rất lúng túng trong việc tạo nguồn bồi dưỡng, kết nạp đảng viên.
Lễ hội Hùng Vương.
Ảnh: Tư liệu
Những hạn chế trên đây là do điều kiện kinh tế - xã hội của các xã khu vực III còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, đa số là đồng bào dân tộc thiểu số, phân bố không đồng đều, tỷ lệ đói, nghèo còn nhiều, trình độ dân trí không đồng đều; số đông thanh niên ở nông thôn thường có xu hướng lấy vợ, lấy chồng và sinh con sớm, một số không có việc làm ổn định thường đi làm ăn xa, ít có điều kiện tham gia các phong trào quần chúng ở địa phương; một số phong tục, tập quán lạc hậu trong các dân tộc thiểu số đã tác động không nhỏ đến nhận thức, xu hướng phấn đấu vào Đảng trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến công tác tạo nguồn bồi dưỡng, kết nạp đảng; vai trò lãnh đạo của một số cấp uỷ bị giảm sút, hiệu lực điều hành của chính quyền ở một số nơi còn yếu. Nhiều tổ chức đoàn thể ở các xã hoạt động yếu hoặc còn nặng tính hình thức, nhất là ở các chi đoàn, chi hội. Chất lượng cán bộ hạn chế và bất cập. Công tác tạo nguồn quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ kế cận, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ lãnh đạo các đoàn thể chưa được chú trọng. Nội dung, hình thức tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác đảng và lớp tìm hiểu về Đảng cho quần chúng chậm được đổi mới, chưa phù hợp với trình độ cán bộ, vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội của các xã miền núi khu vực III. Một bộ phận thanh niên thiếu ý thức rèn luyện, phấn đấu, chạy theo lối sống thực dụng, ngại hoặc không quan tâm đến hoạt động xã hội, đoàn thể. Một số phụ nữ có biểu hiện tự ti, an phận. Mặt khác, sự nhìn nhận về khả năng, vai trò của phụ nữ trong xã hội chưa thực sự cởi mở, bình đẳng, nên việc phát triển đảng viên nữ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.
Để thực hiện được các mục tiêu phát triển đảng viên ở các xã khu vực III, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Phú Thọ đã yêu cầu các cấp uỷ trong thời gian tới tập trung thực hiện nhiệm vụ và giải pháp chính sau:
1. Tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án của Chính phủ, Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 10-15-1999 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Chương trình phát triển kinh tế đối với các xã đặc biệt khó khăn giai đoạn 1999-2005”. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt và chăn nuôi. Chú trọng thực hiện tốt công tác xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, nâng cao chất lượng giáo dục trung học cơ sở; thực hiện tốt hơn chính sách ưu tiên cử tuyển con em thuộc các xã khu vực III đi học các trường trung cấp, cao đẳng, đại học. Nâng cao trình độ dân trí, bài trừ các hủ tục, tập quán lạc hậu.
2. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân (đặc biệt coi trọng đối tượng là đoàn viên, hội viên). Tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt Nghị quyết số 03-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ “Tăng cường công tác phát triển đảng viên giai đoạn 2001-2005”.
3. Chăm lo xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, trọng tâm là xây dựng TCCSĐ. Làm tốt công tác xây dựng tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể trong sạch, vững mạnh. Tăng cường công tác kiểm tra của cấp uỷ, nhất là kiểm tra về tạo nguồn, phát triển đảng viên. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ, kịp thời rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, những đảng viên trẻ, đảng viên là nữ có trình độ, có năng lực nhằm từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kế cận vững vàng, tạo động lực để tiếp tục làm tốt công tác phát triển đảng viên. Có chính sách khuyến khích đội ngũ cán bộ đương chức khu vực III tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn và lý luận chính trị.
Tăng cường lãnh đạo và phân công cấp uỷ viên trực tiếp chỉ đạo các đảng bộ, chi bộ yếu về công tác phát triển đảng viên, nơi đảng viên còn ít, khu dân cư thôn, bản chưa có đảng viên.
4. Đề cao trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, đặc biệt là cấp uỷ đảng cơ sở trong công tác phát triển đảng viên. Đẩy mạnh phong trào thi đua, chương trình hành động cách mạng, thông qua đó để tổ chức đảng, đảng viên và tổ chức đoàn thể lựa chọn những người ưu tú giới thiệu cho Đảng. Làm tốt công tác phân công quản lý đảng viên trong các chi bộ và kiểm tra đảng viên thực hiện nhiệm vụ được giao. Đối với những khu dân cư chưa có đủ số lượng đảng viên để thành lập chi bộ thì bố trí đảng viên ở chi bộ gần đó tham gia sinh hoạt để đủ số lượng thành lập chi bộ, từ đó phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú để kết nạp vào Đảng. Tăng cường công tác bồi dưỡng nghiệp vụ, nhất là nghiệp vụ về công tác đảng viên cho cấp uỷ cơ sở. Tổ chức biên soạn nội dung và cải tiến hình thức mở lớp bồi dưỡng tìm hiểu về Đảng áp dụng riêng cho đối tượng thuộc các xã khu vực III.
5. Đổi mới nội dung phương thức lãnh đạo của cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ theo hướng thiết thực, gắn với việc phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đa dạng hoá các hình thức hoạt động, thu hút, tập hợp, nâng cao chất lượng đoàn viên, hội viên, tạo nguồn phát triển đảng viên.
6. Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khoá VIII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Tăng cường giáo dục, rèn luyện và quản lý đảng viên, xây dựng đội ngũ đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực công tác, là tấm gương sáng để quần chúng học tập. Kiên quyết xử lý những đảng viên vi phạm kỷ luật, củng cố lòng tin của quần chúng với Đảng, tạo động lực cho quần chúng phấn đấu vào Đảng.
Các xã miền núi, khu vực III tuy khó khăn nhất song cũng là địa bàn có nhiều tiềm năng về đất đai, tài nguyên và khoáng sản, là địa bàn quan trọng về an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Làm tốt công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên ở khu vực này sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ phát huy có hiệu quả những tiềm năng sẵn có, góp phần xây dựng miền núi thuộc Tỉnh nhà giàu mạnh, văn minh.
Phú Thọ là một tỉnh miền núi trung du phía Bắc Tổ quốc, cội nguồn của dân tộc Việt Nam, nơi hình thành Nhà nước Văn Lang, Nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam với 18 đời vua Hùng.
Phát huy truyền thống lịch sử của mảnh đất cội nguồn, đền đáp công ơn của cha rồng, mẹ tiên, gần 1,3 triệu người con Phú Thọ, gồm 21 dân tộc anh em luôn đoàn kết, thương yêu nhau, góp sức phát triển các xã vùng cao, miền núi. Tỉnh Phú Thọ có 8/10 huyện, với 215 xã, phường, thị trấn miền núi; 7 xã với 30 bản vùng cao. Đến nay, các xã miền núi khu vực III của Tỉnh đều đã thành lập đảng bộ cơ sở, gồm 270 chi bộ nông thôn và 96 chi bộ trường học, trạm y tế. Trong tổng số 5.869 đảng viên các xã miền núi, khu vực III (tính đến cuối năm 2005) có 65,8% số đảng viên là người dân tộc thiểu số (chiếm 54,28% đảng viên là dân tộc thiểu số toàn Tỉnh).
Nhận thức rõ việc phát triển đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên để bổ sung nguồn sinh lực mới cho Đảng, góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, những năm qua các cấp uỷ cơ sở đã tổ chức triển khai đồng bộ từ xây dựng kế hoạch tạo nguồn, giới thiệu và bồi dưỡng cảm tình, phân công đảng viên theo dõi, giúp đỡ quần chúng đến kết nạp đảng viên, coi kết quả kết nạp đảng viên là chỉ tiêu quan trọng khi xem xét, phân loại TCCSĐ, chi bộ trong sạch, vững mạnh hằng năm. Các tổ chức đoàn thể ở cơ sở đã nêu cao tinh thần trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng, đẩy mạnh công tác thi đua, tổ chức các phong trào hành động cách mạng. Qua đó, phát hiện quần chúng ưu tú giới thiệu cho chi bộ xem xét kết nạp vào Đảng. Vì vậy, số lượng quần chúng ưu tú giới thiệu cho Đảng ngày càng nhiều, chất lượng nguồn, tỷ lệ nữ, tỷ lệ tuổi trẻ ngày càng được nâng cao. Từ 1998 đến nay, các đoàn thể ở các xã miền núi khu vực III đã giới thiệu với tổ chức đảng để cử đi học lớp tìm hiểu về Đảng 5.740 quần chúng, trong đó có 1.842 nữ (32,1%), 2.916 đoàn viên thanh niên (50,8%).
Các cấp uỷ cấp trên đã chú ý đến công tác kiểm tra, đôn đốc cấp uỷ cơ sở về công tác phát triển đảng viên. Nhiều cấp uỷ triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, chương trình hành động số 05-CT/TU về “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ giai đoạn 2001-2005”; xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án phát triển đảng viên ở vùng sâu, vùng xa, nơi chưa có đảng viên hoặc chưa đủ đảng viên để thành lập chi bộ. Trong hai năm (2004-2005), các đảng bộ cơ sở thuộc khu vực III đã kết nạp được 852 đảng viên (bằng 36,7% so với số đảng viên kết nạp từ năm 1998 đến 2005).
Tuy nhiên, trong chỉ đạo và thực hiện công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên ở các xã khu vực III của Tỉnh cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế. Đến nay, vẫn còn 5 khu dân cư chưa có đảng viên, 48 khu dân cư chưa đủ đảng viên để thành lập chi bộ, 58 khu dân cư có đủ đảng viên để thành lập chi bộ nhưng chưa tách thành chi bộ riêng. Công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên và các đoàn thể nhân dân chưa thường xuyên, thiếu chiều sâu. Nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận và các đoàn thể nhân dân chậm đổi mới, chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn thể còn hạn chế. Việc kiểm tra, rà soát chất lượng nguồn của cấp uỷ cơ sở chưa được chú trọng, trách nhiệm của đảng viên được phân công theo dõi, giúp đỡ đối tượng chưa cao, nên số lượng nguồn tuy nhiều nhưng chất lượng còn thấp, tỷ lệ quần chúng ưu tú được kết nạp vào Đảng chỉ đạt 36,2% so với tổng số quần chúng đã được học lớp bồi dưỡng tìm hiểu về Đảng. Chất lượng đảng viên mới kết nạp còn nhiều hạn chế cả về trình độ, năng lực và cơ cấu. Trong số đảng viên mới kết nạp từ 1998 trở lại đây chỉ có 53,4% có trình độ trung học phổ thông; hầu hết số đảng viên mới chưa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tỷ lệ đảng viên nữ mới kết nạp chỉ đạt 28,4%. Nhìn chung chất lượng cán bộ, đảng viên ở các xã miền núi khu vực III đều thấp hơn so với mặt bằng bình quân chung toàn Tỉnh, nhất là trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị. Cho đến nay còn 12,9% số đảng viên có trình độ văn hoá tiểu học, 3,69% số đảng viên có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, số có trình độ lý luận chính trị trung cấp chiếm 5%, cao cấp 0,1%. Đây là khó khăn lớn trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Một số cấp uỷ chưa xây dựng được kế hoạch tạo nguồn phát triển đảng viên, thiếu các biện pháp cụ thể, nên kết quả đạt thấp. Nhiều chi bộ khu dân cư hằng năm không kết nạp được đảng viên. Một số khu còn rất lúng túng trong việc tạo nguồn bồi dưỡng, kết nạp đảng viên.
Lễ hội Hùng Vương.
Ảnh: Tư liệu
Những hạn chế trên đây là do điều kiện kinh tế - xã hội của các xã khu vực III còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, đa số là đồng bào dân tộc thiểu số, phân bố không đồng đều, tỷ lệ đói, nghèo còn nhiều, trình độ dân trí không đồng đều; số đông thanh niên ở nông thôn thường có xu hướng lấy vợ, lấy chồng và sinh con sớm, một số không có việc làm ổn định thường đi làm ăn xa, ít có điều kiện tham gia các phong trào quần chúng ở địa phương; một số phong tục, tập quán lạc hậu trong các dân tộc thiểu số đã tác động không nhỏ đến nhận thức, xu hướng phấn đấu vào Đảng trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến công tác tạo nguồn bồi dưỡng, kết nạp đảng; vai trò lãnh đạo của một số cấp uỷ bị giảm sút, hiệu lực điều hành của chính quyền ở một số nơi còn yếu. Nhiều tổ chức đoàn thể ở các xã hoạt động yếu hoặc còn nặng tính hình thức, nhất là ở các chi đoàn, chi hội. Chất lượng cán bộ hạn chế và bất cập. Công tác tạo nguồn quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ kế cận, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ lãnh đạo các đoàn thể chưa được chú trọng. Nội dung, hình thức tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác đảng và lớp tìm hiểu về Đảng cho quần chúng chậm được đổi mới, chưa phù hợp với trình độ cán bộ, vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội của các xã miền núi khu vực III. Một bộ phận thanh niên thiếu ý thức rèn luyện, phấn đấu, chạy theo lối sống thực dụng, ngại hoặc không quan tâm đến hoạt động xã hội, đoàn thể. Một số phụ nữ có biểu hiện tự ti, an phận. Mặt khác, sự nhìn nhận về khả năng, vai trò của phụ nữ trong xã hội chưa thực sự cởi mở, bình đẳng, nên việc phát triển đảng viên nữ đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.
Để thực hiện được các mục tiêu phát triển đảng viên ở các xã khu vực III, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Phú Thọ đã yêu cầu các cấp uỷ trong thời gian tới tập trung thực hiện nhiệm vụ và giải pháp chính sau:
1. Tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án của Chính phủ, Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 10-15-1999 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Chương trình phát triển kinh tế đối với các xã đặc biệt khó khăn giai đoạn 1999-2005”. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt và chăn nuôi. Chú trọng thực hiện tốt công tác xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, nâng cao chất lượng giáo dục trung học cơ sở; thực hiện tốt hơn chính sách ưu tiên cử tuyển con em thuộc các xã khu vực III đi học các trường trung cấp, cao đẳng, đại học. Nâng cao trình độ dân trí, bài trừ các hủ tục, tập quán lạc hậu.
2. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân (đặc biệt coi trọng đối tượng là đoàn viên, hội viên). Tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt Nghị quyết số 03-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ “Tăng cường công tác phát triển đảng viên giai đoạn 2001-2005”.
3. Chăm lo xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, trọng tâm là xây dựng TCCSĐ. Làm tốt công tác xây dựng tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể trong sạch, vững mạnh. Tăng cường công tác kiểm tra của cấp uỷ, nhất là kiểm tra về tạo nguồn, phát triển đảng viên. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ, kịp thời rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, những đảng viên trẻ, đảng viên là nữ có trình độ, có năng lực nhằm từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kế cận vững vàng, tạo động lực để tiếp tục làm tốt công tác phát triển đảng viên. Có chính sách khuyến khích đội ngũ cán bộ đương chức khu vực III tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn và lý luận chính trị.
Tăng cường lãnh đạo và phân công cấp uỷ viên trực tiếp chỉ đạo các đảng bộ, chi bộ yếu về công tác phát triển đảng viên, nơi đảng viên còn ít, khu dân cư thôn, bản chưa có đảng viên.
4. Đề cao trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, đặc biệt là cấp uỷ đảng cơ sở trong công tác phát triển đảng viên. Đẩy mạnh phong trào thi đua, chương trình hành động cách mạng, thông qua đó để tổ chức đảng, đảng viên và tổ chức đoàn thể lựa chọn những người ưu tú giới thiệu cho Đảng. Làm tốt công tác phân công quản lý đảng viên trong các chi bộ và kiểm tra đảng viên thực hiện nhiệm vụ được giao. Đối với những khu dân cư chưa có đủ số lượng đảng viên để thành lập chi bộ thì bố trí đảng viên ở chi bộ gần đó tham gia sinh hoạt để đủ số lượng thành lập chi bộ, từ đó phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú để kết nạp vào Đảng. Tăng cường công tác bồi dưỡng nghiệp vụ, nhất là nghiệp vụ về công tác đảng viên cho cấp uỷ cơ sở. Tổ chức biên soạn nội dung và cải tiến hình thức mở lớp bồi dưỡng tìm hiểu về Đảng áp dụng riêng cho đối tượng thuộc các xã khu vực III.
5. Đổi mới nội dung phương thức lãnh đạo của cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ theo hướng thiết thực, gắn với việc phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đa dạng hoá các hình thức hoạt động, thu hút, tập hợp, nâng cao chất lượng đoàn viên, hội viên, tạo nguồn phát triển đảng viên.
6. Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khoá VIII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Tăng cường giáo dục, rèn luyện và quản lý đảng viên, xây dựng đội ngũ đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực công tác, là tấm gương sáng để quần chúng học tập. Kiên quyết xử lý những đảng viên vi phạm kỷ luật, củng cố lòng tin của quần chúng với Đảng, tạo động lực cho quần chúng phấn đấu vào Đảng.
Các xã miền núi, khu vực III tuy khó khăn nhất song cũng là địa bàn có nhiều tiềm năng về đất đai, tài nguyên và khoáng sản, là địa bàn quan trọng về an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Làm tốt công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên ở khu vực này sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ phát huy có hiệu quả những tiềm năng sẵn có, góp phần xây dựng miền núi thuộc Tỉnh nhà giàu mạnh, văn minh.
LẠI TIẾN THỊNH
Ban Tổ chức Tỉnh ủy