Lý luận - Thực tiễn
Đảng bộ Hà Giang xây dựng củng cố tổ chức cơ sở đảng
15:1' 13/4/2006


Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới, diện tích tự nhiên trên 7.884 km2, có 274 km đường biên giới với Trung Quốc, địa hình phức tạp, nhiều núi đá, độ dốc cao, hiểm trở, đường giao thông đi lại không thuận lợi, thời tiết khắc nghiệt, điều kiện sản xuất rất khó khăn. Toàn tỉnh có 10 huyện, một thị xã, trong đó có 7 huyện , với 34 xã biên giới, 4 huyện vùng cao núi đá, 142/193 xã, phường, thị trấn thuộc diện đặc biệt khó khăn. Dân số của Tỉnh trên 60 vạn người, gồm 22 dân tộc, đông nhất là người Mông, Tày, Dao... Mật độ dân số và mặt bằng dân trí không đồng đều giữa các vùng.

Từ năm 1999 trở về trước, mặc dù các cấp ủy đã có nhiều cố gắng kiện toàn, củng cố tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, nhưng kết quả còn hạn chế. Công tác phát triển đảng viên và nâng cấp chi bộ cơ sở xã lên đảng bộ chưa có kế hoạch cụ thể. Vì vậy, nhiều thôn bản không có đảng viên, không ít tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) xã, thị trấn không thành lập được đảng bộ (năm 1999, toàn tỉnh còn 228/2.015 thôn, bản, tổ dân cư chưa có đảng viên; 54/191 xã, thị trấn chưa thành lập được đảng bộ cơ sở và trên 2/3 số chi bộ thôn, bản sinh hoạt ghép).

Nhận thức rõ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Nghị quyết Đại hội XIII (nhiệm kỳ 2000-2005) của Đảng bộ tỉnh xác định: Xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng TCCSĐ và đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ hàng đầu, xuyên suốt trong cả nhiệm kỳ; tăng cường tạo nguồn kết nạp đảng viên ở các xóm, bản chưa có đảng viên, xóa dần chi bộ ghép, nâng chi bộ cơ sở xã lên thành đảng bộ; đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy đảng trong đồng bào các dân tộc. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, sự nỗ lực của các cấp uỷ đảng trong 5 năm (tính đến tháng 12 năm 2005), toàn Đảng bộ đã kết nạp được 19.206 đảng viên (trong đó, dân tộc thiểu số là 12.504; nữ: 6.385), đưa tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ lên 36.664 đồng chí. Cuối năm 2000, các thôn, bản toàn tỉnh đều đã có đảng viên; cuối năm 2001, tất cả các xã, phường, thị trấn thành lập được đảng bộ; tháng 11 năm 2003, các thôn, bản đã không còn chi bộ ghép, hoàn thành mục tiêu Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII trước hai năm. Làm tốt công tác kết nạp đảng viên đã góp phần tích cực kiện toàn TCCSĐ (xóa chi bộ ghép; nâng chi bộ cơ sở lên đảng bộ...), tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức đảng và đảng viên hoạt động có hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của TCCSĐ.

5 năm qua, đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng bộ luôn giữ vững phẩm chất đạo đức, lập trường tư tưởng vững vàng, thực hiện tốt nhiệm vụ của người đảng viên. Kết quả đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên các năm cho thấy: Năm 2001, Đảng bộ có 80,07% đảng viên đủ tư cách phát huy tác dụng tốt, số đảng viên vi phạm tư cách chỉ chiếm 0,63%; số TCCSĐ đạt trong sạch, vững mạnh (TSVM) chiếm 84,3%. Năm 2002, số đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ đạt 98%, số đảng viên vi phạm tư cách là 1,24%, số TCCSĐ đạt TSVM 69%. Năm 2003, số đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ 98%, số đảng viên vi phạm tư cách là 1,04%, số TCCSĐ đạt TSVM 62,52%. Năm 2004, số đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ 98%, số đảng viên vi phạm tư cách giảm còn 0,8%, số TCCSĐ đạt TSVM 64,19%. Năm 2005, số đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ 98,6%, số đảng viên vi phạm tư cách là 1,4%, số TCCSĐ đạt TSVM 78,35%. Đến tháng 12 năm 2005, toàn Đảng bộ đã đổi và phát thẻ đảng viên cho 34.508 đồng chí, bằng 89,7% tổng số đảng viên toàn tỉnh. Có được những kết quả trên là do ngay từ đầu nhiệm kỳ Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã tập trung chỉ đạo các ban tham mưu của Tỉnh uỷ đề xuất và thực hiện các biện pháp sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh tạo nguồn kết nạp đảng viên, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo các cấp uỷ đảng tiến hành khảo sát hệ thống tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; chỉ đạo Đảng uỷ Quân sự tỉnh tiến hành khảo sát, xây dựng nguồn trong lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ; chỉ đạo Đảng uỷ Công an tỉnh khảo sát, xây dựng nguồn trong đội ngũ công an viên thôn, bản; chỉ đạo Đảng uỷ Sở Giáo dục - Đào tạo xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên trong Ngành Giáo dục - Đào tạo... Trên cơ sở đó, Tỉnh uỷ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cảm tình đảng và kế hoạch kết nạp đảng viên từng năm và cả nhiệm kỳ. Trong điều kiện của một tỉnh miền núi biên giới khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo các cấp ủy đảng khi xem xét kết nạp đảng viên cần đảm bảo đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo qui định của Điều lệ Đảng, song đối với những thôn, bản vùng cao biên giới, dân tộc thiểu số có thể kết nạp vào Đảng những quần chúng có trình độ văn hoá từ bậc tiểu học trở lên, nhưng đồng chí đó phải có cam kết sau khi được kết nạp tiếp tục học để đạt trình độ học vấn hết bậc trung học cơ sở trở lên. Để giải quyết những khó khăn trong xác minh lý lịch đối với những đồng chí cán bộ, giáo viên có quê ở các tỉnh xa, Tỉnh uỷ đã hỗ trợ kinh phí cho mỗi huyện 15 triệu đồng/năm làm phụ phí xác minh lý lịch cảm tình đảng.

Thứ hai, để thành lập chi bộ ở các thôn, bản, Tỉnh ủy chủ trương phân công các đồng chí đảng viên là cán bộ xã hoặc điều động thầy, cô giáo là đảng viên về dạy tại trường đóng trên địa bàn thôn, bản chưa đủ 3 đảng viên chính thức để thành lập chi bộ đảng. Trên cơ sở đó, tạo nguồn, giới thiệu quần chúng ưu tú để bồi dưỡng kết nạp vào Đảng.

Thứ ba, nhằm nâng cao chất lượng đảng viên và TCCSĐ Tỉnh ủy chỉ đạo UBND giao cho Ngành Giáo dục - Đào tạo Tỉnh tổ chức cho đảng viên học chương trình phổ cập trung học cơ sở tại các xã hoặc chương trình trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện. Đối với đảng viên mới được kết nạp đều được học qua lớp lý luận phổ thông trước khi xét chuyển đảng viên chính thức. Đối với các đồng chí bí thư, phó bí thư chi bộ đều được học lớp bồi dưỡng cấp uỷ ở cơ sở. Các xã tổ chức lớp học văn hoá ban đêm cho đảng viên tham gia học tập do các thầy cô giáo tại xã dạy.

Những thành tích đạt được trong công tác xây dựng đảng nhiệm kỳ qua là yếu tố quyết định giúp Đảng bộ tạo nên sức mạnh, lãnh đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bộ tỉnh. Tốc độ phát triển kinh tế của Tỉnh nhanh, bền vững, với mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm 10,58%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: Tỉ trọng nông nghiệp giảm còn 40%, công nghiệp - xây dựng chiếm 25%, thương mại - dịch vụ 35 %. Thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh đạt 3,2 triệu đồng/năm, tăng 1,9 lần so với năm 2000. Tỉ lệ đói nghèo còn dưới 10% (theo tiêu chí cũ). Đến nay có 173/193 xã, phường, thị trấn, 7/11 huyện, thị đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở. Trình độ dân trí được nâng lên một bước. Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân luôn được đảm bảo. Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,66%. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. An ninh quốc phòng được giữ vững. Hệ thống chính trị thường xuyên được củng cố, nhất là ở cơ sở. Đội ngũ cán bộ có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Công tác luân chuyển cán bộ và đưa sinh viên về công tác tại các xã có hiệu quả. Trong nhiệm kỳ này toàn tỉnh đã luân chuyển 398 cán bộ, trong đó luân chuyển về xã trên 230 đồng chí; đồng thời tuyển trên 300 sinh viên về công tác tại xã. Có thêm cán bộ tăng cường về cơ sở đã tạo điều kiện thuận lợi cho số cán bộ là người địa phương tham gia học tập nâng cao trình độ mọi mặt. Tính đến tháng 6 - 2005, trong tổng số 1.960 đồng chí cấp uỷ viên xã, phường, thị trấn có 472 đã tốt nghiệp trung học phổ thông, 1.220 tốt nghiệp trung học cơ sở, số có trình độ học vấn tiểu học chỉ còn 13%. Trong đó, cán bộ chủ chốt (bí thư, chủ tịch) cơ bản có trình độ văn hoá trung học phổ thông, một số ít có trình độ trung học cơ sở, 100% đã qua lớp lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên, trên 65% đã qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ.

Từ thực tiễn của Đảng bộ có thể rút ra một số kinh nghiệm về xây dựng, củng cố TCCSĐ và công tác đảng viên ở miền núi vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số như sau:

1- Đảng muốn nắm được tâm tư, nguyện vọng của dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số trước hết phải có những đảng viên của Đảng trong các dân tộc thiểu số và tổ chức đảng ở từng xóm, bản. Vai trò lãnh đạo của Đảng chỉ thực sự được khẳng định, phát huy trong đời sống xã hội, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa khi tổ chức đảng xây dựng được đội ngũ đảng viên trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, thông qua số đảng viên này tuyên truyền chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào và cũng chính các đảng viên đó là những người đầu tầu gương mẫu thực hiện phong trào tại cơ sở.

2- Bằng việc thường xuyên tổ chức học tập văn hoá, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và bồi dưỡng công tác đảng cho đội ngũ cấp uỷ và đảng viên ở cơ sở đã góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và TCCSĐ, để tổ chức đảng thật sự TSVM, xứng đáng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở.

3- Lựa chọn những đồng chí có phẩm chất, năng lực, thành tích trong công tác đưa vào qui hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền, đoàn thể từ cơ sở trở lên bảo đảm cơ cấu và tính kế thừa. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Tiếp tục thực hiện tốt công tác qui hoạch và luân chuyển cán bộ, phấn đấu cán bộ xã phải có học vấn phổ thông trung học và từng bước phổ cập trung cấp chuyên môn và trung cấp lý luận chính trị.

4- Tiếp tục tăng cường xây dựng, củng cố Đảng thật sự vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong thời kỳ mới. Thường xuyên chăm lo xây dựng hệ thống chính trị thật sự vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, đề cao trách nhiệm cá nhân, đoàn kết, thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Tăng cường công tác phát triển đảng viên. Phấn đấu có tỉ lệ chi bộ, đảng bộ cơ sở đạt tiêu chuẩn TSVM năm sau cao hơn năm trước.

Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo ghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII. Nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng.

NGUYỄN TRUNG TÀI
Tỉnh ủy viên, Phó trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Tỉnh ủy
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS