Lý luận - Thực tiễn
Bài học kinh nghiệm từ 11 cơ sở đảng yếu kém ở Kiên Giang
14:57' 13/4/2006


Để tiếp tục thực hiện tốt hơn Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) và chương trình hành động của Tỉnh ủy Kiên Giang về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, Tỉnh ủy đã tổ chức khảo sát 15 cơ sở đảng trong tỉnh, trọng tâm là 11 cơ sở yếu kém (năm 2003).

Nội dung vi phạm nhiều nhất là vi phạm nguyên tắc, Điều lệ Đảng, biểu hiện cụ thể là: Độc đoán chuyên quyền, mất dân chủ trong lãnh đạo, điều hành, không lắng nghe ý kiến cấp dưới, không tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện dân chủ một cách hình thức, chiếu lệ, dẫn đến tình trạng bằng mặt nhưng không bằng lòng, chứa đựng âm ỷ trong nội bộ những nhân tố mất đoàn kết, khi có điều kiện thì bùng phát xung đột. Mất đoàn kết trong nội bộ cấp ủy, đặc biệt là giữa cấp trưởng với phó của cơ quan, cơ sở (9/11 cơ sở). ở những nơi này, đồng chí thủ trưởng hoặc bí thư không còn làm được vai trò trung tâm đoàn kết đảng viên, cán bộ, chiến sĩ (có cả trường hợp giữa cấp phó tranh nhau chức quyền, ganh tỵ nhau). Tình trạng mất đoàn kết ở mỗi nơi mỗi khác về nội dung, tính chất, nhưng có những cơ sở đến mức độ gay gắt, công khai kéo bè, kéo cánh, đả kích, tìm cách hạ uy tín nhau, thậm chí dùng cả báo chí để “đánh nhau”, gây băn khoăn, hoang mang trong cán bộ, nhân viên, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, gây dư luận không tốt trong xã hội.

Lĩnh vực vi phạm nhiều nhưng đậm nét và phổ biến nhất là về công tác cán bộ và quản lý tài chính. ở những cơ sở này, công tác cán bộ được thực hiện theo chủ quan của người lãnh đạo, không căn cứ vào yêu cầu tiêu chuẩn, nguyên tắc, quy trình trong việc đánh giá, đề bạt, bố trí cán bộ. Biểu hiện vị thân, vị kỷ khá rõ. Vì thế đã xuất hiện những sai phạm ấu trĩ như: Chồng ký quyết định bổ nhiệm vợ, cha ký quyết định đề bạt con,… dù cấp ủy đảng tại cơ sở không đồng tình, quần chúng phản ứng. Trên lĩnh vực quản lý chi tiêu tài chính, tại 11 cơ sở, hầu hết đều có sai phạm với mức độ và tính chất khác nhau. Phổ biến là tùy tiện, chi sai nguyên tắc, chế độ chính sách của Nhà nước, không công khai trong tập thể cơ quan hoặc công khai một cách hình thức. Có cơ sở đã xảy ra tình trạng tham ô, lập quỹ trái phép, thậm chí móc ngoặc với bên ngoài, tạo điều kiện cho kẻ xấu trốn thuế, vi phạm pháp luật, làm thất thoát ngân sách.

Hầu hết những cơ sở này đều không thực hiện đúng quy chế dân chủ ở cơ sở và quy chế của cơ quan (dù đã có xây dựng), người đứng đầu đã thực hiện công tác quản lý theo mối quan hệ thân thích, tùy tiện, gây bất bình trong nội bộ. Vi phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh đã gây nên những thiệt hại khá lớn về cán bộ, tài sản. Có cơ sở từng là lá cờ đầu của một ngành quan trọng, do chủ quan trong bố trí đầu tư và cơ cấu sản xuất phân tán, quản lý không chặt chẽ, dẫn đến lỗ lớn, gây mất lòng tin trong nội bộ và nhân dân.

Những vi phạm, khuyết điểm nêu trên của 11 cơ sở yếu kém có nhiều nguyên nhân, song có thể xếp thành ba loại nguyên nhân chính: nguyên nhân cấp trên cơ sở; nguyên nhân trực tiếp của cơ sở và nguyên nhân của cá nhân người vi phạm.

Nguyên nhân từ cấp trên và cấp trên trực tiếp của cơ sở.

1. Quá trình quản lý, đánh giá cán bộ còn nhiều nhược điểm, sai sót là nguyên nhân có tính chi phối. Chưa phối hợp chặt chẽ giữa cấp trên, cấp dưới và cơ quan quản lý cán bộ trong công tác quản lý, đánh giá cán bộ. Công tác phối hợp chưa được xây dựng thành quy chế, chưa được thực hiện thường xuyên, còn trông chờ ỷ lại nhau. Nội dung phối hợp chưa cụ thể, chưa phân định trách nhiệm rõ ràng. Một số thông tin cần thiết phục vụ cho việc quản lý, đánh giá cán bộ chưa được tiếp nhận xử lý và trao đổi kịp thời giữa cấp trên và cấp dưới với cơ quan làm công tác cán bộ, dẫn đến tình trạng có sự đánh giá khác nhau, thiếu kết luận thống nhất trong một số trường hợp. Còn tình trạng ách tắc giữa các cơ quan hữu quan, giữa cấp trên và cấp dưới. Do đó, khi cán bộ chủ chốt của cơ sở có hành vi vi phạm, không được thông báo kịp thời cho lãnh đạo có trách nhiệm xử lý. Nhiều trường hợp để kéo dài 3-5 năm, thậm chí 6-7 năm, nhiều người biết, cấp trên biết, nhưng không kịp thời xác minh, kết luận, xử lý hoặc có biện pháp ngăn chặn thích hợp, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ, mất cán bộ, ảnh hưởng phong trào và lòng tin trong quần chúng. Do đánh giá cán bộ chưa sát đúng về năng lực, phẩm chất, uy tín nên nhiều trường hợp bố trí sai, dẫn đến người được bố trí bộc lộ ngay yếu kém, khuyết tật khi mới nhận nhiệm vụ, gây nên tình trạng không lành mạnh, bất ổn trong tập thể lao động, cơ quan, đơn vị, kéo theo sự sa sút của cơ sở.

Nguyên nhân trên xuất phát từ nhận thức chưa đúng tầm, chưa toàn diện và khoa học ở một số cấp ủy cấp trên cơ sở và cơ quan làm công tác cán bộ.

2. Công tác đánh giá chất lượng cơ sở đảng và đảng viên hằng năm chưa tốt, chưa sát đúng, dẫn đến khen thưởng thiếu chính xác, tác động lớn đến phấn đấu của cơ sở và đảng viên. Còn biểu hiện nể nang, thiếu kiên quyết trong đánh giá phân loại cơ sở và đảng viên. Hệ quả là, sau xếp loại và khen thưởng, tác dụng giáo dục, động viên thấp, thiếu sức thuyết phục, không tạo ra tác nhân, tiền đề phấn đấu tiếp theo cho những cơ sở, đảng viên khác. Riêng tại những cơ sở được phân loại và khen thưởng như thế, cán bộ đảng viên giảm lòng tin với cấp trên, nội bộ tiếp tục mất đoàn kết, cán bộ chủ chốt không tu tỉnh sửa chữa, khắc phục khuyết nhược điểm, trái lại tiếp tục coi thường tập thể, đảng viên, dấn sâu vào những vi phạm đã qua mà đáng lý phải được sửa chữa khắc phục kịp thời. Nguyên nhân này không chỉ ở những chi, đảng bộ yếu kém, mà còn có bóng dáng ở những cơ sở đảng được xếp loại khá. Vì thế, có những cơ sở đảng trước đó được đánh giá là trong sạch, vững mạnh, nhưng bỗng rơi xuống yếu kém. Điều này không bất ngờ, bởi tình trạng yếu kém đã tồn tại, đã có mặt ở đó rồi, dù không được nhận dạng và gọi đúng tên.

3. Bệnh thành tích, không chịu hoặc không dám nhìn vào sự thật của cơ sở, đơn vị mình, là căn bệnh không chỉ phổ biến ở các cơ sở yếu kém đã khảo sát, mà còn khá đậm nét ở những cơ sở khác. Biểu hiện phổ biến của căn bệnh này là: Thổi phồng thành tích, vo tròn, bóp méo hoặc né tránh, che giấu sự thật mất đoàn kết, mất dân chủ, kèn cựa, đấu đá lẫn nhau; lỗ thật thành lãi giả; tham nhũng, lem nhem thành trong sạch; vi phạm nguyên tắc của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng thành vững mạnh;  lãng phí, quan liêu xa rời quần chúng thành gắn bó gần gũi với nhân dân v.v… ở cấp trên cơ sở, căn bệnh này được thể hiện trong đánh giá của người đi chỉ đạo với nơi được chỉ đạo. Có sự gặp nhau trong căn bệnh thành tích tại cơ sở, đơn vị, giữa cấp dưới và cấp trên, không phân biệt trình độ, năng lực. Những nơi, những người bị bệnh này sẵn sàng chụp mũ, cô lập, trù dập những cán bộ, đảng viên dám phản ánh sự thật, đấu tranh cho chân lý.

4. Để cán bộ ở vị trí chủ chốt quá lâu, tuy không phổ biến, nhưng lại tác động quyết định đến thực trạng yếu kém của một số cơ sở. Một số trường hợp, cấp trên không thường xuyên kiểm tra hiệu quả công việc và uy tín của những cán bộ này để có kế hoạch bổ nhiệm lại. Do đó, có cán bộ chủ chốt cơ sở, hoặc ngành, đã tại vị hằng 10 năm, 20 năm. Thời gian đầu phát huy tốt. Sau sinh ra chủ quan, gia trưởng, độc đoán chuyên quyền, mất dân chủ, không nghe cấp dưới và quần chúng, nịnh trên, nạt dưới, xây dựng vây cánh, hình thành những “thế lực ngầm” trong cơ quan, đơn vị, trù dập những người dám đấu tranh phê phán, làm tha hóa cán bộ, lũng đoạn cơ sở, làm cho cấp trên khó phân định thật, giả trong đánh giá.

Nguyên nhân từ chính cơ sở là chủ yếu nhất:

1. Yếu kém trong công tác giáo dục cán bộ, đảng viên là nguyên nhân đầu tiên mang tính chi phối nhận thức và hành động của cơ sở. Tại hầu hết những cơ sở yếu kém, công tác giáo dục chính trị chưa được chú trọng và thực hiện thường xuyên, chưa chú ý vận dụng và liên hệ đến thực tiễn của cơ sở, của ngành, đơn vị. Phần lớn các cuộc sinh hoạt chính trị được thực hiện rập khuôn, hình thức, xơ cứng, đơn điệu, không tạo ra được không khí học tập và lôi cuốn sự tham gia, đóng góp trí tuệ của đông đảo đảng viên. Mặt khác, công tác tư tưởng tại cơ sở chưa được nhận thức đúng, chỉ tập trung tuyên truyền giáo dục đường lối, chủ trương chung, chưa quan tâm đi sâu dùng các điển hình tốt và cả xấu tại chỗ để giáo dục. Do đó, ý nghĩa thực tiễn hạn chế, không giúp người cán bộ đảng viên tại cơ sở chuyển hóa từ nhận thức chung sang nhận thức cụ thể và thể hiện bằng hành động qua công việc cụ thể hằng ngày, chưa đề ra mức phấn đấu rèn luyện đúng tầm, khả thi theo từng thời gian. Phương thức thực hiện trên đã hạn chế tính lãnh đạo và tính giáo dục ở từng cơ sở, không nâng được tác dụng hướng dẫn hành động cho cán bộ, đảng viên.

2. Không thực hiện đúng quy chế của cơ quan, cơ sở, đơn vị, xuất phát chủ yếu từ nhận thức chưa đúng về quy chế và thực hiện quy chế. Hầu hết cơ sở đều xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động, nhưng không quan tâm thực hiện. Cũng do nhận thức chưa đúng, phần lớn các quy chế còn chung chung, chưa cụ thể, sát hợp với chức năng, nhiệm vụ, tính chất của từng tổ chức, bộ phận. Bản thân nhiều cấp ủy đảng, đảng viên cũng thiếu ý thức bám vào quy chế để soi rọi đánh giá cán bộ, đảng viên tại cơ sở, mà chủ yếu căn cứ vào nhiệm vụ chuyên môn, không nhận thấy nếu quy chế được xây dựng và thực hiện tốt sẽ là điểm tựa quan trọng để thắt chặt đoàn kết nội bộ, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật và hoàn thành nhiệm vụ chính trị.

3. Tinh thần đấu tranh, tự phê bình và phê bình yếu. Thực trạng nguy hiểm là ở hầu hết những cơ sở đảng yếu kém, phần lớn cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên đều biết rõ, đều nhận thấy cán bộ chủ chốt hoặc bản thân cơ sở vi phạm và mức độ vi phạm nhưng đa số giữ im lặng hoặc có đấu tranh cũng không kiên quyết đến nơi đến chốn. Phê phán không đi vào vấn đề, sự việc cụ thể mà vòng vo, chung chung. Phương pháp đấu tranh một số nơi chưa thấu lý, đạt tình, chưa có sự thống nhất cao, chưa tập hợp thành sức mạnh tập thể để đấu tranh với hiện tượng sai trái của cơ sở và người đứng đầu. Đáng lý tự phê bình là chính, song do phê bình bị hạn chế, nên đã tác động không tốt đến hiệu quả tự phê bình của cán bộ, đảng viên tại cơ sở, không tạo được ý thức tôn trọng tập thể, sợ vi phạm Điều lệ Đảng trong cán bộ, đảng viên, nhất là chủ chốt. Bản thân trong cấp ủy ở các cơ sở yếu kém cũng không có người đủ bản lĩnh phát huy sức mạnh tập thể đấu tranh với hiện tượng sai trái. Do đó, đã để người vi phạm trượt dài. Đến khi kết cục đã quá muộn, thiệt hại cho Đảng, cơ sở, gia đình và xã hội. Thực trạng trên một phần xuất phát từ kiến thức, hoàn cảnh, nhưng chủ yếu từ bản lĩnh đấu tranh từ nhận thức và tinh thần trách nhiệm xây dựng Đảng của đảng viên và cơ sở.

4. Trình độ, năng lực, nhận thức về Đảng, về công tác đảng của cấp ủy, của bí thư, phó bí thư yếu, thực chất là xem nhẹ công tác đảng. Ở những cơ sở này, nhiều trường hợp hiểu về Đảng, xây dựng Đảng, công tác đảng còn rất hạn chế, thậm chí ấu trĩ, đơn giản. Một số cán bộ chủ chốt cơ sở không đủ tầm, không làm được vai trò đầu tàu, trung tâm lãnh đạo và hướng dẫn. Cũng do kém hiểu biết về Đảng, không nắm vững mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, đã khiến cán bộ chủ chốt độc đoán, gia trưởng, trù dập những đảng viên cán bộ không ăn cánh, hoặc dám đấu tranh phê bình. Một số ít cán bộ chủ chốt hạn chế cả trình độ chuyên môn, học vấn, xem nhẹ hoặc buông lơi xây dựng Đảng, xây dựng chi bộ, dẫn tới vai trò lãnh đạo của cơ sở đảng ngày càng mờ nhạt.

5. Cơ sở đảng được tổ chức thiếu hợp lý cũng đưa cơ sở đến yếu kém. Có những cơ sở đảng được hợp thành từ đảng viên ở hai, ba ngành cấp huyện. Có cơ sở, tổ chức, chi bộ có nhiều đảng viên ở những bộ phận trên địa bàn rộng, cách xa nhau, khó khăn trong đi lại sinh hoạt, đặc biệt là cơ cấu ngành nghề, chức năng, nhiệm vụ rất khác nhau, mặc dù ở một số ngành đủ đảng viên để hình thành những tổ chức đảng theo Điều lệ. Bởi cách thức tổ chức như vậy, một bộ phận khá đông đảng viên không hiểu biết nhau, hạn chế công tác giám sát, tự phê  bình và phê bình trong xây dựng Đảng. Do đó, khi có sự việc sai trái, vi phạm xảy ra, nhiều đảng viên không hay biết, khó góp ý cho nhau để khắc phục, sửa chữa.

6. Thiếu phát huy dân chủ trong nội bộ và quyền giám sát của quần chúng, các đoàn thể trong xây dựng Đảng, chính quyền và thực hiện nhiệm vụ chính trị. Ở hầu hết những cơ sở này, quy chế dân chủ ở cơ sở và quy chế của cơ quan, đơn vị chưa được thực hiện thường xuyên, đầy đủ. Lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa tạo điều kiện để quần chúng tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng đơn vị, chưa tạo ra được không khí cởi mở dân chủ thật sự để cán bộ, quần chúng đề xuất ý kiến hoặc đấu tranh với những hiện tượng sai trái. Nếu có tổ chức cũng qua loa, hình thức, không chấp hành đúng quy định công khai tài chính của Nhà nước. Trong công tác cán bộ, chưa tạo điều kiện thực hiện việc quần chúng tham gia ý kiến khi nhận xét, đánh giá, bố trí cán bộ. Vì thế, ở một số cơ sở xuất hiện tình trạng vị thân, vị kỷ, phe nhóm, bưng bít sự thật, che giấu sai trái. Khi được phát hiện, sự việc đã thành nghiêm trọng, mất cán bộ và lòng tin của quần chúng.

Nguyên nhân từ bản thân người vi phạm: Thiếu ý thức rèn luyện, bộc lộ chủ nghĩa cá nhân nặng, tập thể góp ý không sửa hoặc sửa chậm, thậm chí rơi vào độc đoán chuyên quyền. Một số người có quá trình cống hiến dài, thành tích lớn, nhưng kém tu dưỡng rèn luyện, tự mãn với công lao thành tích, suy thoái mà không tự nhận thấy. Khá lớn trong số cán bộ chủ chốt và người vi phạm thể hiện nhận thức về Đảng kém, ý thức tổ chức kỷ luật không nghiêm, tinh thần tự giác hạn chế, không tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

Do những nguyên nhân trên, ở một số người vi phạm thể hiện những hành động sai trái hết sức ấu trĩ, biết sai, thậm chí phạm pháp vẫn làm; đối lập, tách rời tập thể. Cuối cùng rơi vào bế tắc.

Giải pháp

Đối với cấp trên cơ sở.

Các cấp ủy đảng và cơ quan làm công tác cán bộ cần nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm đối với công tác quản lý và đánh giá cán bộ. Phải nắm vững quan điểm, nội dung, tiêu chuẩn, vận dụng phương thức quản lý và đánh giá phù hợp với từng giai đoạn, từng loại cán bộ, tránh tình trạng phiến diện hoặc quá cầu toàn. Quá trình quản lý phải đưa ra được cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn, giúp cho sự đánh giá chính xác, dẫn đến bố trí cán bộ sát đúng. Cần khẩn trương xây dựng và áp dụng quy chế phối hợp quản lý, lượng hóa tiêu chuẩn đánh giá, phân loại cán bộ theo yêu cầu của tình hình mới. Cơ quan làm công tác cán bộ phải cập nhật quá trình cống hiến, phát triển của từng cán bộ, làm cơ sở cần thiết phục vụ cho việc đánh giá, bố trí cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập thể cấp ủy cho ý kiến (bằng văn bản) khi nhận xét, đánh giá, bố trí cán bộ. Phải công khai trong đánh giá cán bộ. Người được đánh giá phải được biết nội dung đánh giá. Khi bố trí cán bộ, không chỉ lấy ý kiến trong nội bộ mà phải lấy cả ý kiến trong nhân dân, thông qua các đoàn thể. Cần nắm vững, thực hiện nguyên tắc lấy kết quả trong quá khứ và hiện tại để đánh giá, bố trí cán bộ. Coi trọng việc đánh giá lại song song với đánh giá theo định kỳ, để có cái nhìn toàn diện về một cán bộ.

Cần xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch nâng cao kiến thức, năng lực cho cấp ủy viên, nhất là cán bộ chủ chốt ở cơ sở. Trên cơ sở bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch từng cấp, xúc tiến nhanh công tác đào tạo bồi dưỡng chính trị, chuyên môn cho cán bộ chủ chốt và những chức danh quan trọng ở cơ sở, với nhiều hình thức phù hợp. Khuyến khích việc tự học tập. Cần tiến hành đánh giá hiệu quả của các mô hình bố trí cán bộ, đặc biệt là mô hình giám đốc kiêm bí thư cơ sở hoặc bí thư kiêm chủ tịch. Tiếp tục thực hiện chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cơ sở, trọng tâm là cán bộ chủ chốt.

Để đánh giá chính xác chất lượng cơ sở đảng và đảng viên cần đứng vững trên những chuẩn mực theo quy định của Đảng, có cách nhìn toàn diện, trước, sau, nghe và nắm nhiều nguồn thông tin, phân tích một cách thực tiễn và khoa học, nhận định rõ hiện tượng và bản chất, đột biến hay thường xuyên, cục bộ hay toàn cục, với thái độ kiên quyết, đúng mực có lý, có tình, dứt khoát mà không áp đặt. Làm cho kết quả đánh giá phân loại được tâm phục, khẩu phục không chỉ ở cơ sở mà còn có sức lan tỏa. Để sau đánh giá phân loại, cơ sở sớm ổn định và đi lên, cấp trên tăng thêm uy tín, trên, dưới có điều kiện gắn bó một lòng phấn đấu.

Để khắc phục căn bệnh thành tích, ở mọi cơ sở đảng và cấp trên cơ sở cần thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên giữ vững bản chất khoa học và cách mạng của Đảng, lý tưởng và ý chí chiến đấu của người đảng viên, tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, khẳng định lòng tin, dựa vào dân, vào Đảng, quyết tâm phấn đấu vượt qua thực tiễn khó khăn, trở ngại để đi lên, không buông xuôi, càng không ảo tưởng. Trong cuộc chiến chống căn bệnh thành tích, phô trương này, người đứng đầu có vai trò quyết định. Từng cấp, từng cơ sở cần xây dựng và thực hiện tốt quy chế cơ quan, cũng như quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường kiểm tra, có biện pháp biểu dương, khen thưởng những cơ sở, cán bộ dám đấu tranh chống bệnh thành tích. Đồng thời xử lý thích đáng những cán bộ, tập thể cố tình bưng bít, che giấu, nói, viết và báo cáo sai sự thật, để răn đe, ngăn ngừa trong nội bộ và giáo dục ngoài xã hội.

Tăng cường việc kiểm tra với nhiều hình thức, kịp thời phát hiện những vi phạm của cơ sở và người đứng đầu cơ sở. Lãnh đạo tốt việc công khai kế hoạch sản xuất kinh doanh, các nguồn vốn, thu nhập, lợi nhuận. Công khai nội dung nhận xét và đánh giá cán bộ. Thực hiện tốt chủ trương luân chuyển cán bộ, quy định của Đảng và Nhà nước về bổ nhiệm và bổ nhiệm lại.

Cần kiểm tra, xem xét lại cơ cấu, hình thức tổ chức của cơ sở đảng sắp xếp, điều chỉnh hoặc tổ chức lại cho phù hợp.

Đối với cơ sở.

Cấp ủy, nhất là bí thư, cần nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục tại chi, đảng bộ; nắm vững ba tính chất lãnh đạo, giáo dục và chiến đấu, coi trọng giáo dục chung, giáo dục nhận thức và giáo dục thông qua sự việc, con người cụ thể tại cơ sở, địa phương. Làm cho nội dung giáo dục vừa có tính thực tiễn, gần gũi, thiết thực, vừa có giá trị nâng cao. Dùng lý luận để phân tích soi sáng thực tiễn tại chỗ, đồng thời dùng thực tiễn làm yếu tố, điều kiện để nâng cao nhận thức, củng cố quyết tâm và hướng dẫn hành động.

Bản thân cơ sở cần nhận thức lại một cách đúng đắn vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng quy chế và thực hiện quy chế, cả quy chế công tác cán bộ và công tác tài chính. Phải coi quy chế là “luật” nội bộ của cơ quan, đơn vị; mỗi người đều có nghĩa vụ tham gia xây dựng và trách nhiệm thực hiện. Nội dung quy chế phải thật cụ thể, thiết thực, xuất phát từ thực tiễn nhiệm vụ, chức năng của từng cơ sở, bộ phận, thậm chí từng chức danh. Lấy kết quả thực hiện quy chế làm một căn cứ đánh giá phẩm chất đạo đức, sự phấn đấu của cán bộ, đảng viên trong cơ sở. Cán bộ chủ chốt cơ sở phải là người đi đầu thực hiện.

Nhằm nâng cao tinh thần, ý thức, quyết tâm và bản lĩnh đấu tranh tự phê bình và phê bình ở cơ sở, nhất là những cơ sở yếu kém hoặc trung bình, cấp ủy đảng và các ban xây dựng Đảng cần quan tâm lãnh đạo, hướng dẫn các cơ sở đảng tổ chức học tập lại Điều lệ Đảng với những trọng tâm, trọng điểm sát hợp với yêu cầu, thực trạng tình hình từng chi, đảng bộ tại cơ sở. Coi trọng lãnh đạo, hướng dẫn tự phê bình và phê bình theo định kỳ; kịp thời tổ chức tự phê bình và phê bình ở những cơ sở đảng có vấn đề nổi cộm với sự tham dự của cấp trên cơ sở, nhằm khích lệ tinh thần đấu tranh của đảng viên tại cơ sở. Nếu để cơ sở “tự bơi” khi người chủ chốt có vi phạm, tình hình sẽ ngày thêm trầm trọng. Bản thân cơ sở và đảng viên phải tự nâng nhận thức về Đảng, về xây dựng Đảng, về sử dụng vũ khí đấu tranh tự phê bình và phê bình. Từng cơ sở đảng phải làm cho ý thức này thấm sâu và lan tỏa trong từng đảng viên, kể cả quần chúng ngoài Đảng ở cơ quan, đơn vị. Cấp ủy đảng, bí thư cấp ủy phải làm gương, tạo phong trào tại cơ sở để đảng viên làm theo, quần chúng phấn khởi, tạo nên sức mạnh đoàn kết trong Đảng và với quần chúng. Tăng cường và thường xuyên xây dựng ý thức tôn trọng, phát huy quyền dân chủ trong nội bộ Đảng và quần chúng. Bản thân từng đảng viên, cán bộ và quần chúng phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm góp phần thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và quy chế của cơ quan, đơn vị. 

Đối với cá nhân vi phạm.

Biện pháp truyền thống, có giá trị hiện nay là mỗi đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt phải luôn ra sức học tập, rèn luyện, hòa mình vào tập thể, khiêm tốn, tôn trọng, gần gũi lắng nghe. Xây dựng tinh thần đoàn kết thương yêu nhau trong Đảng và với quần chúng. Mỗi người phải tự đặt mình vào tổ chức, tôn trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đúng quy chế đảng bộ và cơ quan. Xây dựng ý thức tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình; ra sức tu dưỡng, chống chủ nghĩa cá nhân, chống mọi biểu hiện lạm quyền và chuyên quyền, xu nịnh, tham nhũng, độc đoán, xa rời tập thể và quần chúng. Học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn bó với quần chúng trong cơ quan, đơn vị và nơi cư trú. Thực hiện phương châm: Chức càng trọng, sống càng nghiêm. Cán bộ, đảng viên phải đi đầu, là tấm gương về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, nói phải đi đôi với làm. Từng cơ sở đảng phải tạo điều kiện để cán bộ, công chức, người lao động và nhân dân giám sát hoạt động của mình, coi đó là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá cơ sở đảng và đảng viên.

VIỆT THANH
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS