Lý luận - Thực tiễn
Đại học Đà Nẵng phát triển đảng viên trong sinh viên
14:52' 13/4/2006


Đại học Đà Nẵng là trường đại học khu vực, đa lĩnh vực. Hiện nay, Đại học Đà Nẵng có 5 trường thành viên: Đại học Bách khoa, Đại học Sư phạm, Đại học Kinh tế, Đại học Ngoại ngữ, Cao đẳng Công nghệ và 17 trung tâm đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Năm qua, Trường có hơn 5.000 sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh theo học ở 18 chuyên ngành cao học, 11 chuyên ngành nghiên cứu sinh, 67 chuyên ngành đại học, 14 chuyên ngành cao đẳng và hơn 8 chuyên ngành trung học và công nhân học nghề có 7 chuyên ngành. Hằng năm, Trường còn có hơn 4.000 học viên theo học các khóa đào tạo từ xa, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học, ngữ văn tại các trung tâm của Đại học Đà Nẵng.

Đảng bộ Đại học Đà Nẵng thành lập tháng 12-1995. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Đà Nẵng, Đảng bộ trường đã tập trung lãnh đạo, củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Trường. Đến nay, Đảng bộ Đại học Đà Nẵng có 6 đảng bộ và 52 chi bộ cơ sở trực thuộc với gần 600 đảng viên, trong đó có 77 đảng viên sinh viên.

Nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục, đào tạo, Đảng bộ Đại học Đà Nẵng luôn xác định công tác xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt. Công tác phát triển đảng viên trong sinh viên được coi là một nội dung cơ bản nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ. Đảng bộ tập trung chỉ đạo các cấp ủy đảng, chi bộ, các cấp quản lý, các đoàn thể cùng vào cuộc làm công tác phát triển đảng viên trong sinh viên.

Trước hết, Đảng bộ thực hiện nhiều biện pháp tạo sự chuyển biến trong nhận thức về công tác phát triển đảng viên trong học sinh, sinh viên của các cấp ủy, chi bộ, cán bộ, đảng viên. Đảng ủy tổ chức hội thảo chuyên đề về công tác phát triển đảng viên nhằm tìm nguyên nhân, tháo gỡ những vướng mắc. Trong các nghị quyết của Đảng ủy Đại học Đà Nẵng, nghị quyết của các trường thành viên, của các chi bộ cơ sở đều đề cập đến công tác phát triển đảng viên và xác định đây là nhiệm vụ quan trọng.

Các cấp ủy tìm cách khắc phục quan niệm đánh giá khắt khe, thiếu thống nhất trong việc xác định tiêu chuẩn cảm tình đảng là sinh viên; chuẩn xét kết nạp. Từ sự thống nhất nhận thức, ngày 6-5-1998, Đảng ủy Đại học Đà Nẵng đã ra Nghị quyết chuyên đề về tăng cường công tác phát triển đảng trong tình hình mới. Nghị quyết được quán triệt trong tất cả các cấp ủy đảng.

Đảng ủy Đại học Đà Nẵng thường xuyên quan tâm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn và uốn nắn nhận thức lệch lạc; chỉ đạo các tổ chức quản lý, các đoàn thể chăm lo xây dựng bộ máy trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh các phong trào hoạt động theo chiều sâu, tạo môi trường cho sinh viên hoạt động, qua đó lựa chọn những đoàn viên sinh viên ưu tú bồi dưỡng thành cảm tình đảng.

Đảng ủy phân công đảng ủy viên phụ trách công tác thanh niên và giao nhiệm vụ thường xuyên chỉ đạo, nắm bắt tình hình hoạt động của Đoàn thanh niên, sự phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện của đoàn viên sinh viên. Trong các hội nghị giao ban, trực báo, Đảng ủy đều nhắc nhở, chỉ đạo các đảng bộ, chi bộ làm tốt công tác phát triển đảng viên. Thông qua hình thức trao đổi, kiến nghị, Đảng ủy làm rõ thêm nhận thức, nguyên tắc, phương pháp, quy trình bồi dưỡng đối tượng phát triển đảng viên là sinh viên để các tổ chức đảng thực hiện có hiệu quả.

Đảng ủy coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng về Đảng cho quần chúng. Từ năm 1996 đến 2004, Đảng ủy đã mở các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho khoảng 4.000 quần chúng ưu tú, trong đó có 3.156 sinh viên; chỉ tính riêng năm 2005 đã có 601 đoàn viên ưu tú được bồi dưỡng nhận thức về Đảng. Sau mỗi khóa học, Đảng ủy đều tổ chức cho người học viết thu hoạch, qua đó tiếp tục nâng cao nhận thức, niềm tin vào Đảng, xác định động cơ phấn đấu, rèn luyện vào Đảng đúng đắn. Những năm qua, số sinh viên được kết nạp vào Đảng tăng. Nếu năm 1999, Đảng bộ Đại học Đà Nẵng kết nạp được 41 đảng viên, trong đó 3 là sinh viên thì năm 2004 là 69 và 33, năm 2005 là 77 và 37. Trong 5 năm (2001- 2005), toàn Đảng bộ đã kết nạp được 106 sinh viên vào Đảng. Cùng với sự tăng số lượng thì chất lượng đảng viên được coi trọng. Đảng viên phát huy tốt vai trò tiền phong, gương mẫu trong học tập, nghiên cứu khoa học và trong các phong trào hoạt động. Đặc biệt, đảng viên sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường nhanh chóng trưởng thành trong thực tiễn công tác.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phát triển đảng viên trong sinh viên ở Đại học Đà Nẵng còn một số khó khăn, vướng mắc. Hầu hết đoàn viên sinh viên tuổi còn trẻ, chưa có điều kiện thử thách nhiều; thời gian học ở trường ngắn, gia đình lại ở khắp mọi miền đất nước nên công tác thẩm tra, xác minh lý lịch khó khăn. Nhiều đảng bộ chưa thành lập được chi bộ sinh viên. Số lượng sinh viên đông nên việc theo dõi, bồi dưỡng, giúp đỡ sinh viên chưa thật hiệu quả.

Mặt khác, nhiều đảng viên cho rằng sinh viên chưa được tôi luyện, thiếu thời gian thử thách lập trường, tư tưởng. Trong sinh viên còn có những bất cập giữa hoạt động phong trào với kết quả học tập. Có những sinh viên hoạt động phong trào tốt nhưng kết quả học tập lại không đạt tiêu chuẩn và ngược lại. Vì thế chỉ có 6,5% tổng số đảng viên được kết nạp là sinh viên; tỷ lệ đoàn viên được kết nạp vào Đảng mới chỉ bằng 0,03% tổng số đoàn viên; phần lớn đến năm thứ ba, thứ tư sinh viên mới được kết nạp, có những trường hợp vừa kết nạp xong cũng là lúc tốt nghiệp ra trường. Giữa tổ chức đảng, cơ quan quản lý và các đoàn thể còn lúng túng trong cơ chế phối hợp, giáo dục, bồi dưỡng cảm tình đảng. Nhận thức ở một số cấp ủy, chi bộ, đảng viên chưa sâu, chưa thật sự coi trọng công tác phát triển đảng viên trong sinh viên.

Để phát huy những kết quả đã đạt được, tháo gỡ những vướng mắc và thực hiện tốt mục tiêu đã đề ra, trong thời gian tới Đảng bộ Đại học Đà Nẵng tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, các cấp ủy đảng tiếp tục quán triệt và thống nhất nhận thức về sự cần thiết của công tác phát triển đảng viên trong sinh viên. Phải xác định rõ công tác phát triển đảng viên là một nhiệm vụ thường xuyên trong việc xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh. Từ đó có chương trình, kế hoạch và biện pháp phát triển đảng viên cụ thể. Cấp ủy phải tập trung lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng, củng cố tổ chức đảng, các đoàn thể quần chúng; ra nghị quyết chuyên đề về công tác phát triển đảng trong sinh viên; nghị quyết chuyên đề về công tác thanh niên; định kỳ nghe chi bộ báo cáo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết. Các chi bộ, đảng bộ, các đoàn thể trong chương trình công tác hằng tháng, hằng quý, hằng năm phải đưa công tác phát triển đảng viên gắn với nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị. Chi bộ khoa, chi bộ sinh viên, phòng giáo vụ và quản lý sinh viên, các đoàn trường, Hội sinh viên, Liên chi đoàn và các chi đoàn cần có cơ chế phối hợp thống nhất trong hành động. Hằng năm gắn công tác xét công nhận các danh hiệu của chi bộ, đảng bộ, đoàn thể và từng cá nhân đảng viên với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển đảng viên.

Thứ hai, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho sinh viên; giáo dục bồi dưỡng tri thức về Đảng, về lý tưởng cách mạng để nâng cao hiểu biết, lý tưởng, củng cố quan điểm, lập trường, hình thành ở họ nhãn quan chính trị, bản lĩnh, niềm tin vững vàng vào sự lãnh đạo của Đảng. Coi trọng việc giáo dục, bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng cho sinh viên, giúp họ có sức “đề kháng” trước sự tấn công của cái xấu, bài trừ những cái xấu, tiêu cực, lối sống thực dụng do mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động vào. Giáo viên phải nêu cao vai trò gương mẫu và là người giúp sinh viên định hướng đúng, điều chỉnh hành vi ứng xử của mình, tiếp thu những giá trị chuẩn mực đạo đức, hoàn thiện nhân cách, phấn đấu trở thành người đảng viên cộng sản.

Thứ ba, chủ động làm tốt khâu tạo nguồn phát triển đảng viên. Muốn vậy, phải phát động sâu rộng các phong trào với nhiều hình thức hoạt động phong phú, đa dạng, phù hợp với đặc điểm, nhu cầu chính đáng của sinh viên như thi đua học tập và nghiên cứu khoa học, hoạt động sáng tạo, hoạt động chính trị, các hội thi, hội thao, hoạt động xung kích tình nguyện... Từ phong trào, các chi bộ, đảng bộ, đoàn thể có điều kiện phát hiện và lựa chọn những quần chúng ưu tú để tiếp tục giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách tạo nguồn cho Đảng.

Thứ tư, xây dựng tổ chức đoàn, hội sinh viên vững mạnh về mọi mặt và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đoàn. Tổ chức đoàn và Hội không ngừng đổi mới nội dung, hình thức hoạt động và phương thức chỉ đạo; nâng cao chất lượng và hoạt động. Tổ chức đoàn phải chủ động giới thiệu cho chi bộ những quần chúng ưu tú có đủ điều kiện, tiêu chuẩn để bồi dưỡng, xem xét kết nạp.

Thứ năm, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh làm cơ sở cho công tác phát triển đảng viên. Chi, đảng bộ phải là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, gần gũi, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của sinh viên; theo dõi giúp đỡ và bồi dưỡng sinh viên trong học tập, rèn luyện và hoạt động phong trào. Tổ chức đảng, ban giám đốc các trường thành viên và các đoàn thể cần có sự thống nhất cao trong nhận thức, cơ chế phối hợp, cách thức tiến hành cũng như biện pháp thực hiện công tác phát triển đảng viên.

Với chủ trương đúng và biện pháp phù hợp, tin rằng trong thời gian tới, công tác phát triển đảng viên tại Đảng bộ Trường Đại học Đà Nẵng sẽ có kết quả cao hơn, góp phần tích cực xây dựng Đảng.
TRẦN VĂN PHƯƠNG
Học viện Chính trị khu vực II
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS