I. Mô hình nào cho chi bộ sinh viên?
Đó là câu hỏi và cũng là trăn trở của đảng uỷ nhiều trường đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) trong cả nước. Sau năm 1975, nhiều bộ đội phục viên và cán bộ đi học ở các trường ĐH, CĐ và tỷ lệ đảng viên trong sinh viên (SV) tăng lên. Mỗi khoa đều có đủ đảng viên để lập một chi bộ sinh viên (CBSV), thậm chí có lớp được chi bộ độc lập. Tuy nhiên, từ năm 1985, 1986 trở đi, khi lớp đảng viên “sinh viên lớn tuổi” tốt nghiệp ra trường, nhiều trường đại học (ĐH) rơi vào tình trạng “trống” đảng viên SV (ĐVSV). Có trường chỉ còn 1, 2 đảng viên là SV, sinh hoạt trong chi bộ giáo viên hoặc chi bộ cán bộ phòng, ban; nhiều trường không có ĐVSV. Vai trò của ĐVSV trở nên mờ nhạt, việc nắm bắt tư tưởng cũng như tổ chức các phong trào trong SV kém hiệu quả.
Từ khi có Chỉ thị 34 của Bộ Chính trị, công tác tạo nguồn, bồi dưỡng quần chúng ưu tú kết nạp vào Đảng trong SV các trường ĐH, CĐ được đẩy mạnh, số lượng đảng viên là SV tăng lên đáng kể. ĐVSV đông, hoạt động của SV đa dạng nảy sinh nhu cầu tổ chức những mô hình CBSV phù hợp để CBSV thực sự là nơi tập hợp lực lượng, trung tâm đoàn kết, lãnh đạo các phong trào của SV, nơi quản lý, rèn luyện ĐVSV, giúp các ĐVSV có cơ hội phát huy tính tiền phong gương mẫu, thể hiện năng lực của mình. Việc hình thành và hoạt động của các mô hình CBSV đã thúc đẩy công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên trong SV.
CBSV có những đặc thù: Thứ nhất, đảng viên có tuổi đời và tuổi đảng trẻ; ít vốn sống và thiếu kinh nghiệm công tác đảng. Thứ hai, CBSV liên tục có sự thay đổi về số lượng. Vào những tháng cuối năm học (từ tháng 3 đến tháng 7 hằng năm), các CBSV luôn có đông đảng viên, nhưng sau một mùa hè, những ĐVSV năm cuối ra trường, số lượng ĐV trong các chi bộ giảm đáng kể: CBSV Khoa Báo (Học viện Báo chí & Tuyên truyền) thường dao động về số lượng ĐV từ 40 xuống còn 5; con số này với CBSV Viện Đại học Mở là 20-3, với trường ĐH Kiến trúc Hà Nội là 34-6, ĐH Bách khoa Hà Nội là 60-10... ; cá biệt như ở trường ĐH Sân khấu Điện ảnh, thành lập được CBSV với 37 đảng viên, nhưng sau một năm học, ĐVSV ra trường, chi bộ... cũng giải thể(!) Thứ ba, tỷ lệ đảng viên dự bị trong chi bộ cũng rất cao: CBSV ĐH Bách khoa Hà Nội số đảng viên dự bị trên tổng số đảng viên là 35/45; Viện ĐH Mở là 12/19; ĐH Kinh tế quốc dân là 25/50; ĐH Kiến trúc Hà Nội là 8/34...
Qua khảo sát, hiện nay phổ biến có 3 mô hình CBSV: CBSV ghép, CBSV có sự tham gia sinh hoạt của đảng viên là cán bộ, giáo viên và CBSV độc lập. Bên cạnh 3 mô hình này, ở một số trường, do lượng đảng viên là SV quá ít nên ĐVSV sinh hoạt cùng với đảng viên là cán bộ, giảng viên.
CBSV ghép là chi bộ tập hợp ĐVSV từ tất cả các khoa trong trường (thường gọi tắt là CBSV) và trực thuộc đảng uỷ nhà trường. Mô hình này được áp dụng khá phổ biến ở một số trường như: CĐ Giao thông vận tải, CĐ Cộng đồng Hà Tây, CĐ Sư phạm Thừa Thiên Huế, ĐH Y Hà Nội, ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội, ĐH Khoa học tự nhiên Hà Nội, ĐH Nông-Lâm Huế, ĐH An Giang... CBSV ghép đôi khi là chi bộ tập hợp ĐVSV của nhiều “khoa nhỏ” của trường như CBSV của ĐH Bách khoa Hà Nội có ĐVSV ghép từ 17 khoa khác nhau hoặc một số CBSV ĐH Luật Hà Nội. Mô hình này phổ biến ở những trường có số lượng ĐVSV ở mỗi khoa không nhiều, hoặc do những điều kiện nhất định nên không chia tách thành các chi bộ nhỏ.
Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ, công tác phát triển đảng viên được đẩy mạnh, số lượng ĐVSV tăng. Nếu duy trì mô hình một CBSV toàn trường sẽ dẫn đến tình trạng “quá tải”, chi bộ lãnh đạo gặp không ít khó khăn. Vì thế, Đảng uỷ nhiều trường đã nghiên cứu áp dụng mô hình CBSV phù hợp hơn. Từ năm 1997, 1998 Đảng uỷ các trường ĐH Nông nghiệp I, ĐH Thuỷ lợi, ĐH Lâm nghiệp... ra nghị quyết chuyên đề về công tác đảng trong SV, trong đó, nhấn mạnh việc tách CBSV lập các chi bộ nhỏ ở mỗi khoa chuyên ngành. Cùng với việc đưa ĐVSV về sinh hoạt ở từng khoa, đảng uỷ trường cử đảng viên là giáo viên chủ nhiệm lớp, cán bộ giáo vụ khoa, hoặc những đồng chí trực tiếp làm công tác quản lý sinh viên tham gia sinh hoạt cùng với CBSV của khoa. Những chi bộ này là CBSV có sự tham gia sinh hoạt của đảng viên là cán bộ, giáo viên. Cũng áp dụng mô hình CBSV có sự tham gia của giáo viên nhưng các trường ĐH Kiến trúc Hà Nội, ĐH Giao thông vận tải... lại chọn những đảng viên là giảng viên trẻ của mỗi khoa (có trường hợp đang là học viên cao học) đưa về sinh hoạt với CBSV, coi đây vừa là nhiệm vụ vừa tạo cơ hội để các giảng viên trẻ khẳng định năng lực và trách nhiệm của mình. ở trường ĐH Khoa học tự nhiên TP. Hồ Chí Minh, ngoài các ĐVSV, còn có các đảng viên đang công tác tại Phòng Công tác chính trị, Đoàn Thanh niên và Hội SV Trường sinh hoạt tại CBSV.
CBSV độc lập có 2 dạng: CBSV gồm những ĐV học cùng một lớp. Dạng chi bộ này có thể coi là lý tưởng. Vì ở đó, vai trò lãnh đạo của chi bộ được thể hiện rõ ràng, tập trung và có tác dụng trực tiếp. Dạng này chủ yếu là ở các lớp cao học tập trung của một số trường ĐH, lớp bác sỹ nội trú (đối với các trường ĐH Y khoa) và một số lớp thuộc khối lý luận chính trị của Học viện Báo chí & Tuyên truyền (SV chủ yếu là cán bộ các cơ quan được cử đi học). Dạng thứ hai là CBSV có đảng viên học cùng một khoa chuyên ngành. Dạng này khá phổ biến ở các khoa lớn của một số trường như: CBSV Khoa Công nghệ thông tin, Khoa Điện (ĐH Bách khoa Hà Nội), Khoa Báo chí (Học viện Báo chí & Tuyên truyền), Khoa Công trình (ĐH Thuỷ lợi), Khoa Nông nghiệp và Khoa Sư phạm (ĐH Cần Thơ)... Mô hình này tương đối giống CBSV có sự tham gia của giáo viên (vì đảng viên là SV ở từng khoa) nhưng hoạt động lại giống CBSV ghép (độc lập thực hiện mọi hoạt động của chi bộ và dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đảng uỷ nhà trường hoặc chịu sự lãnh đạo thống nhất của cả đảng uỷ trường và đảng uỷ khoa).
II. Chất lượng hoạt động của CBSV.
Tìm hiểu hoạt động của các mô hình CBSV, chúng tôi thấy nổi lên một số vấn đề sau:
1. Thực hiện vai trò lãnh đạo của CBSV.
CBSV là hạt nhân chính trị lãnh đạo SV thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ nhà trường là cầu nối trực tiếp giữa Đảng và SV. Với những đảng viên trẻ, nhiệt tình và ham hiểu biết, CBSV đã phát huy vai trò nòng cốt nổi bật trong các phong trào học tập, rèn luyện của SV, trong các hoạt động của Đoàn thanh niên, Hội Sinh viên; sâu sát đời sống SV, nắm bắt tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng của SV trong trường, phản ánh kịp thời với đảng uỷ khoa, đảng uỷ trường... CBSV cũng góp phần thiết thực vào rèn luyện, thử thách, bồi dưỡng cán bộ trẻ của khoa, của trường và trong công tác tạo nguồn phát triển đảng viên. Đặc biệt, vai trò đảng viên trong CBSV luôn được đánh giá cao: Họ là những tấm gương sáng về học tập, đi đầu trong các hoạt động của SV. Nhiều đảng viên là những cán bộ lớp, cán bộ chi đoàn, cán bộ đoàn khoa hoạt động sôi nổi, sâu sát SV đã giúp chi bộ nắm bắt tình hình trong SV kịp thời.
Dựa trên Quy định 100-QĐ/TU về “Chức năng, nhiệm vụ của chi bộ đảng trong các đảng bộ trường ĐH và CĐ ở Hà Nội” của Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội, có trường đã vận dụng, cụ thể hoá, xây dựng chức năng, nhiệm vụ của CBSV cho phù hợp với tính chất riêng (Trường ĐH Nông nghiệp I đã có Quy định số 18/QĐ-ĐU ngày 6-3-1998), từ đó lãnh đạo, hướng dẫn CBSV hoạt động đúng chức năng, có hiệu quả. Song, số trường như vậy chưa nhiều. Đảng uỷ các trường vẫn lúng túng trong chỉ đạo hoạt động của CBSV. Những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, về đối tượng, nội dung lãnh đạo, về phương thức hoạt động của CBSV vẫn đang là những khó khăn, trăn trở của nhiều cấp uỷ các trường ĐH, CĐ. Chẳng hạn: Với CBSV ghép toàn trường thì lãnh đạo tổ chức chính quyền, đoàn thể nào? Hiện nay, tỷ lệ đảng viên so với tổng số SV toàn trường rất thấp. Một CBSV 25 đảng viên có “quản lý” và lãnh đạo được 5.000 SV ở tám khoa (ĐH Khoa học Tự nhiên Hà Nội), 41 đảng viên làm sao nắm bắt được tình hình của 3.000 SV ở năm khoa (CĐ GTVT) hoặc 50 ĐVSV có đủ khả năng và điều kiện theo sát hoạt động của hơn 10.000 SV thuộc 20 khoa như ở ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học Kinh tế Quốc dân TP. Hồ Chí Minh...? Trong khi các CBSV không lãnh đạo các chi hội SV, chi đoàn lớp, đoàn khoa vì các tổ chức này trực thuộc hội SV và đoàn trường; Hội SV và đoàn trường lại chịu sự chỉ đạo trực tiếp của đảng uỷ nhà trường. Những khó khăn, vướng mắc trên đã hạn chế vai trò lãnh đạo của các CBSV.
Với CBSV ở các khoa, hoặc các lớp, tình hình này khả quan hơn. Sự lãnh đạo của CBSV hướng trực tiếp vào đối tượng là SV trong một khoa hoặc một lớp, vì thế, chất lượng hoạt động và vai trò lãnh đạo của chi bộ cũng rõ ràng hơn. ở đây, CBSV tổ chức và lãnh đạo được nhiều phong trào thiết thực như nâng cao chất lượng học tập, đổi mới hoạt động của các phong trào đoàn, phong trào hội SV, tạo cho SV môi trường sinh hoạt, học tập tích cực, lành mạnh.
Đảng uỷ các trường đều đánh giá rất cao vai trò của CBSV trong công tác tạo nguồn phát triển đảng viên trong SV. CBSV ĐH Kinh tế quốc dân có năm kết nạp 50 đảng viên, CBSV ĐH Bách khoa Hà Nội HN kết nạp 30-40 đảng viên; CBSV ĐH Y Hà Nội: 25-30, CBSV ĐH Khoa học tự nhiên TP Hồ Chí Minh: 25, ĐH Cần Thơ: 40-50 đảng viên... Thường vụ Đảng uỷ Trường ĐH Bách khoa Hà Nội khẳng định: “CBSV thực sự rất nỗ lực trong phát triển đội ngũ đảng viên. Từ việc lựa chọn những quần chúng tốt trong phong trào của SV để rèn luyện, thử thách, giao nhiệm vụ, đến việc lập danh sách, làm hồ sơ kết nạp đảng đều được CBSV tiến hành rất kỹ lưỡng, có bài bản”. Thầy Chu Văn Đu - Phó bí thư Đảng uỷ ĐH Kiến trúc Hà Nội cũng đánh giá: “Đảng uỷ Nhà trường rất yên tâm với những hồ sơ kết nạp đảng được CBSV giới thiệu. Đó không chỉ là những SV đạt kết quả cao trong học tập mà đều là rất có uy tín trong quần chúng, năng nổ trong các hoạt động chung”.
Các CBSV gồm các đảng viên trẻ, kiến thức và kinh nghiệm công tác đảng chưa nhiều; nhưng thực hiện nhiệm vụ phát triển đảng viên có kết quả là do đảng uỷ nhà trường quan tâm bồi dưỡng, hướng dẫn cụ thể.
2. Về chất lượng sinh hoạt chi bộ (SHCB).
Hầu hết các CBSV giữ được định kỳ mỗi tháng sinh hoạt một lần. Để đảm bảo lịch học, phần lớn các CBSV sinh hoạt ngoài giờ. Có trường quy định thời gian SHCB để đảng viên chủ động xây dựng kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện để tham gia SHCB mà không ảnh hưởng đến công việc học tập như Viện ĐH Mở... Tuy nhiên, có trường, do thời gian học tập của các đảng viên không giống nhau nên việc lựa thời gian thích hợp trong tháng để sinh hoạt rất khó khăn.
Nội dung sinh hoạt CBSV thường tập trung thảo luận, trao đổi về tình hình học tập của lớp, của khoa trong tháng, triển khai chỉ thị, nghị quyết của đảng uỷ nhà trường đến SV. Có một số CBSV tổ chức được các buổi sinh hoạt chuyên đề bàn một nội dung như: “Đẩy mạnh phong trào học tập”, “Làm thế nào để SV đến với Đảng được nhiều hơn?”, “Tổ chức các câu lạc bộ nghiên cứu khoa học như thế nào?”... Trong trao đổi, thảo luận, nhiều ĐVSV đưa ra các ý kiến mang tính giải pháp, có khả năng ứng dụng cao. Điển hình là CBSV các trường ĐH Bách khoa Hà Nội, CĐ Sư phạm Nhạc-Hoạ, CĐ GTVT...
Trong các CBSV ghép, nhất là những chi bộ có từ 40 đến 50 đảng viên, đa phần là đảng viên dự bị, lại tập hợp từ nhiều khoa, thậm chí các khoa đặt trụ sở rất xa nhau (ĐH Bách khoa Hà Nội, Viện ĐH Mở, CĐ GTVT,...) nên tuy là đảng viên trong cùng một chi bộ nhưng ít hiểu biết lẫn nhau, không nắm được tình hình của đồng chí mình. Trong SHCB các đảng viên ngại phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm. Có đồng chí, khi là cán bộ lớp, cán bộ chi đoàn rất năng nổ, nhưng tham gia SHCB lại trở nên rụt rè, e ngại. Do đó, chất lượng SHCB bị hạn chế. Việc tập hợp lực lượng, tổ chức các phong trào học tập và rèn luyện ở các CBSV ghép khó khăn.
Trong các CBSV có sự tham gia của giáo viên, do quy mô đảng viên ít hơn, đảng viên có cơ hội tiếp xúc với nhau và hiểu nhau hơn nên ít rụt rè. Nhưng vì có đảng viên là giáo viên cùng SHCB nên một số ĐVSV lại có tâm lý e ngại do quan hệ thầy - trò chi phối, đặc biệt là trong phê bình đảng viên là giáo viên.
Với CBSV độc lập, ít mắc phải những hạn chế trên nên SHCB có nhiều thuận lợi, chất lượng và nội dung sinh hoạt bám sát được nhiệm vụ của chi bộ.
3. Về bí thư CBSV.
Bố trí bí thư các CBSV theo ba mô hình nêu trên rất khác nhau. CBSV ghép, bí thư chi bộ thường là SV. Do hiểu biết chính trị, kinh nghiệm công tác đảng còn ít, khả năng diễn thuyết hạn chế nên gặp khó khăn trong việc phát huy vai trò lãnh đạo của chi bộ. Để khắc phục tình trạng này, nhiều trường một mặt tích cực bồi dưỡng bí thư chi bộ là SV, mặt khác đã chỉ định đảng viên là cán bộ, giáo viên về làm bí thư CBSV, hoặc giới thiệu để đại hội CBSV bầu làm bí thư. Cũng có trường, cấp uỷ đưa đảng viên là giáo viên về làm bí thư tăng cường cho CBSV, nhưng đồng chí này vẫn thực hiện nhiệm vụ đảng viên ở chi bộ giáo viên. Đây là sự vận dụng đáp ứng yêu cầu nâng cao vai trò lãnh đạo của CBSV.
III. Một số kiến nghị.
1. Các cấp uỷ cần coi trọng chỉ đạo công tác phát triển đảng viên trong SV.
Hiện nay, ở các trường ĐH, CĐ đa phần SV được kết nạp đảng vào năm thứ ba hoặc thứ tư. Khi trở thành đảng viên chính thức, SV đã ra trường và không còn điều kiện hoạt động trong CBSV. Theo chúng tôi, cấp uỷ các trường nên chỉ đạo công tác tạo nguồn phát triển đảng viên sớm hơn. Ngay khi SV vào trường năm thứ nhất, dưới sự chỉ đạo của đảng uỷ nhà trường, các CBSV kết hợp với các chi đoàn nắm bắt tình hình SV, sớm tạo điều kiện và mạnh dạn giao nhiệm vụ cho những SV tích cực từ khi còn là học sinh phổ thông để thử thách và phát huy khả năng, sở trường của họ. Đặc biệt chú ý đến những SV là cảm tình đảng từ trước khi vào trường. Như vậy, qua thử thách, nếu có đủ điều kiện, đầu năm hoặc giữa năm thứ hai, đảng uỷ nhà trường đã có thể xem xét, kết nạp một số SV tiêu biểu vào Đảng.
2. Phải gắn công tác kết nạp đảng viên là SV với xây dựng mô hình CBSV nhằm phát huy vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ học tập và xây dựng con người mới trong SV. Tuỳ đặc điểm của mỗi trường để lựa chọn mô hình CBSV thích hợp. Nhưng theo chúng tôi, khi có đủ điều kiện về số lượng đảng viên và đội ngũ cán bộ, ĐVSV, đảng uỷ các trường ĐH, CĐ nên thành lập các CBSV độc lập theo khoa hoặc theo lớp. Nếu được đảng uỷ nhà trường chăm lo bồi dưỡng, chỉ bảo tận tình, đưa ĐVSV vào thực tiễn công tác đảng, các CBSV sẽ thể hiện được năng lực, nhanh chóng đảm đương được vai trò, trách nhiệm của một chi bộ độc lập. Đây là môi trường rèn luyện, đào tạo cán bộ trẻ trưởng thành nhanh.
3. Đảng uỷ trường tăng cường chỉ đạo, CBSV chủ động tạo nguồn, quy hoạch và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kế cận, để khi các bí thư, phó bí thư khoá trước tốt nghiệp ra trường, các cán bộ này có đủ điều kiện, năng lực và kinh nghiệm đảm nhận nhiệm vụ. Trong trường hợp cử đảng viên là cán bộ, giáo viên đến sinh hoạt cùng CBSV thì phải coi việc rèn luyện, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong SV là nhiệm vụ số một. Khi đội ngũ cán bộ SV trưởng thành, các đảng viên là giáo viên nên thôi tham gia hoạt động tại CBSV, tạo môi trường cho cán bộ SV phát huy khả năng.
4. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa CBSV với tổ chức đoàn thanh niên và hội sinh viên để vừa phát huy được vai trò của các tổ chức, đoàn thể trong SV vừa giúp các CBSV nâng cao chất lượng hoạt động của mình.
5. Ở những nơi có đông ĐVSV, không lập CBSV trên 30 đảng viên mà nên tách thành các chi bộ với quy mô phù hợp để vẫn đảm bảo thực hiện đúng Điều lệ Đảng, vừa phát huy cao độ vai trò, vị trí của từng CBSV, thuận lợi trong tổ chức sinh hoạt.
LÊ THUỶ