Lý luận - Thực tiễn
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng đồn biên phòng
21:21' 14/3/2006


Đồn biên phòng là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên về nhiệm vụ công tác biên phòng, đồng thời tham gia phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng - an ninh ở địa phương. Tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) ở đồn biên phòng là hạt nhân chính trị lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác biên phòng trong địa bàn được giao; lãnh đạo xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ đồn biên phòng là một trong những nhân tố quyết định bảo đảm cho đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Những năm qua, Đảng uỷ Bộ đội Biên phòng (BĐBP) đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ đồn biên phòng. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các chi bộ, đảng bộ đồn biên phòng làm tốt công tác xây dựng đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thường xuyên quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, nhiệm vụ của BĐBP. Đồng thời, thực hiện nghiêm túc Quy định 54-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chế độ học tập trong Đảng; chú trọng giáo dục phẩm chất, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Chỉ đạo kiện toàn cấp uỷ các chi bộ, đảng bộ đồn biên phòng, làm tốt việc bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ bí thư, phó bí thư và cấp uỷ viên. Chuẩn bị nhân sự cấp uỷ gắn với kiện toàn cán bộ chủ trì, nhất là trong các kỳ đại hội đảng. Thực hiện chủ trương thành lập đảng bộ, đến nay đã thành lập 57 đảng bộ đồn biên phòng.

Tập trung chỉ đạo các tổ chức đảng chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Thực hiện tự phê bình và phê bình, dân chủ nội bộ nhằm phát huy vai trò của tổ chức đảng trong triển khai nghị quyết của chi bộ, đảng bộ và tăng cường công tác quản lý đảng viên trong điều kiện đồn biên phòng hoạt động độc lập, phân tán.

Chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra đối với các TCCSĐ đồn biên phòng, căn cứ vào tình hình thực tế hướng dẫn ra nghị quyết chuyên đề, lập kế hoạch kiểm tra và tổ chức kiểm tra TCCSĐ, đảng viên thực hiện nghị quyết, chấp hành các nguyên tắc, Điều lệ Đảng, quy định của Bộ Chính trị và của Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Đảng ủy BĐBP chỉ đạo các TCCSĐ đồn biên phòng sơ kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII, Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 160 của Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, chỉ đạo các cấp tiếp tục thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và Đảng uỷ Quân sự Trung ương về đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nhiệm kỳ qua, Đảng ủy BĐBP thành lập 17 TCCSĐ ở các đồn mới, kết hợp với củng cố các chi bộ ở đồn biên phòng. Thường xuyên duy trì trên 98,05% số chi bộ có chi uỷ vững chắc, hơn 85,5% số cấp uỷ các cấp đạt trong sạch, vững mạnh (TSVM), 86,4% số TCCSĐ TSVM. Các đảng bộ biên phòng tỉnh, thành phố đã mở 143 lớp tập huấn cho 5.155 lượt cấp uỷ viên, tổ chức các hội thi bí thư chi bộ giỏi ở cơ sở, kịp thời rút kinh nghiệm để bồi dưỡng, nâng cao năng lực toàn diện cho đội ngũ bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên. TCCSĐ ở đồn biên phòng thường xuyên duy trì thực hiện nền nếp sinh hoạt, quy chế, quy định, chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Mối quan hệ giữa cấp uỷ với chi bộ, đảng bộ, bí thư với cấp uỷ, bí thư với người chỉ huy được xác định rõ, tạo sự đoàn kết nhất trí cao, năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của TCCSĐ được nâng lên. Từ năm 2001 đến nay, biên phòng các tỉnh, thành phố đã kiểm tra được 1.063 lượt TCCSĐ và 9.298 lượt đảng viên ở đồn biên phòng. Qua kiểm tra đã phát hiện, chấn chỉnh những thiếu sót, khuyết điểm của cơ sở, đồng thời củng cố đoàn kết nội bộ một số cấp uỷ, chỉ huy, kịp thời xử lý kỷ luật những trường hợp vi phạm. Hằng năm, việc đánh giá phân loại TCCSĐ phản ánh sát thực chất những mặt được và chưa được để có biện pháp khắc phục. Vì vậy, hầu hết các tổ chức đảng ở đồn biên phòng thực sự là hạt nhân đoàn kết, lãnh đạo thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, hoạt động của TCCSĐ đồn biên phòng thời gian qua còn những hạn chế: Một số cấp uỷ, TCCSĐ đồn biên phòng quán triệt, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên còn chậm, chưa sâu, thực hiện các quy định, quy chế chưa nghiêm, chất lượng ra nghị quyết và sinh hoạt đảng còn thấp. Một số cấp uỷ, chỉ huy và cán bộ chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu, nhiệm vụ trước tình hình mới. Một số nơi còn lúng túng về chủ trương và phương pháp vận động quần chúng tham gia chống tội phạm, buôn lậu, lấn chiếm, vượt biên, truyền đạo trái pháp luật, di, dịch cư tự do. Vai trò lãnh đạo toàn diện của một số cấp uỷ, TCCSĐ đồn biên phòng còn hạn chế, nội bộ chưa thực sự đoàn kết, một bộ phận đảng viên còn biểu hiện trung bình chủ nghĩa, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, cá biệt có một số cán bộ, đảng viên ở đồn biên phòng bị suy thoái về phẩm chất đạo đức và lối sống, vi phạm kỷ luật, pháp luật.

Công tác bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra yêu cầu tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ đồn biên phòng, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao chất lượng nghị quyết, đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ và cấp ủy đồn biên phòng. Cấp uỷ cần xác định rõ nội dung nghị quyết, sinh hoạt chi bộ phải ngắn gọn, thiết thực, sát với tình hình nhiệm vụ của đơn vị, bảo đảm toàn diện và có trọng tâm. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới và yêu cầu xây dựng đơn vị ở mỗi tuyến biên giới, biển đảo có đặc điểm riêng, do vậy nội dung sinh hoạt phải bám sát tình hình thực tiễn, thảo luận đề ra các giải pháp thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, giải quyết dứt điểm khâu yếu, mặt yếu của đơn vị. Trước hết, tổ chức học tập, quán triệt nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nghị quyết của Đảng ủy BĐBP và biên phòng tỉnh, thành phố. Coi trọng sinh hoạt tự phê bình và phê bình, tập trung làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết. Cải tiến hình thức, phương pháp sinh hoạt chi bộ, bảo đảm nguyên tắc, thủ tục nhưng không cứng nhắc, gò ép; phải tạo được sự thống nhất về nhận thức và hành động, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm lệch lạc, sai trái, biểu hiện cơ hội.

Hai là, xây dựng đội ngũ đảng viên vững mạnh về mọi mặt. Phải thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; đảm bảo giáo dục toàn diện, thiết thực, cụ thể gắn với tiêu chí, chuẩn mực đạo đức, lối sống, yêu cầu công tác của người cán bộ, đảng viên nơi tuyến đầu Tổ quốc. Thực hiện nghiêm túc các quy định về những điều đảng viên không được làm và thực hiện nhiệm vụ đảng viên nơi cư trú; tăng cường công tác quản lý, kiểm tra đảng viên. Thực hiện việc đánh giá chất lượng đảng viên hằng năm sát thực chất. Làm tốt công tác phát triển đảng viên, đảm bảo 100% số chi bộ, đảng bộ đồn biên phòng có cấp uỷ vững chắc, 100% các tổ đội công tác có chi bộ, tổ đảng.

Phát huy tính chủ động, sáng tạo xử lý tình huống trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên phù hợp đặc điểm của đồn biên phòng là phân tán, xa chỉ huy. Đồng thời, tăng cường thông tin, liên lạc bảo đảm chính xác sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng TCCSĐ và kiện toàn cấp uỷ đồn biên phòng thực sự TSVM gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Tổ chức tốt việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy đối với BĐBP”. Xây dựng và củng cố đoàn kết, thống nhất trong tập thể cấp uỷ và chỉ huy, mối quan hệ giữa bí thư với cấp trưởng và cấp phó trong sinh hoạt đảng và lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Thực hiện đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng, trước hết là đổi mới việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; làm rõ và xử lý dứt điểm các vụ việc, bảo đảm nội bộ trong sạch; phòng chống có hiệu quả sự suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ phó đồn trưởng về chính trị. Đây là khâu hết sức quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị ở các đồn biên phòng. Thực hiện nghiêm túc quy chế quản lý, bổ nhiệm, nhận xét, đánh giá và sử dụng cán bộ, rà soát, phân loại để có định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ phù hợp. Duy trì chế độ tập huấn đối với đội ngũ phó đồn trưởng về chính trị hai năm một lần, tổ chức thi phó đồn trưởng chính trị giỏi 5 năm một lần. Chuẩn bị tốt về mọi mặt để thực hiện Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị về thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội…

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu TCCSĐ ở đồn biên phòng góp phần phát huy vai trò hạt nhân chính trị của TCCSĐ, lãnh đạo đơn vị hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới trong tình hình mới.

Bờ biển nước ta với những thắng cảnh đẹp và hấp dẫn từ Móng Cái đến Hà Tiên, có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, quốc phòng và an ninh, đang chuyển động theo hướng CNH, HĐH. Hiện nay số tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) vùng biển chiếm 4,01% tổng số TCCSĐ toàn quốc. Yêu cầu xây dựng, củng cố TCCSĐ vùng biển trong thời kỳ mới là tạo ra cho được giá trị mới tốt, vững chắc hơn, thực sự là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, làm cho vùng biển giàu đẹp, văn minh, dân sinh, dân trí, dân chủ không ngừng cải thiện và nâng cao.

ý thức được trách nhiệm đó, trong những năm qua, các TCCSĐ vùng biển đã có nhiều cố gắng lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, nhờ vậy, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ... đã phát triển hơn, đem lại những kết quả đáng kể; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước; bộ mặt nông thôn, đô thị có những biến đổi sâu sắc; tình hình an ninh chính trị khá ổn định. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới. Đội ngũ cán bộ, đảng viên vùng biển ngày một trưởng thành về nhiều mặt, số cán bộ tốt nghiệp THPT chiếm từ 27 đến 30%; số cán bộ đã học xong chương trình lý luận chính trị trung cấp chiếm từ 30 đến 35%. Gần 65% số đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhiều TCCSĐ phấn đấu đạt tiêu chuẩn TSVM. Trong những năm qua, các chi bộ, đảng bộ đã kết nạp được hàng nghìn đảng viên, nhờ vậy vừa thu hẹp dần các thôn, xóm, tổ dân phố chưa có tổ chức đảng, vừa tạo nguồn cán bộ ở vùng biển trong tương lai.

Tuy vậy, TCCSĐ vùng biển nước ta vẫn còn những mặt hạn chế, bất cập, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ có mặt chưa tương xứng yêu cầu, nhiệm vụ. Kiến thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên có mặt còn hẫng hụt: 65-70% số cán bộ xã, phường chưa tốt nghiệp THPT; 60-65% số cán bộ chưa học lý luận chính trị; nhiều cán bộ, đảng viên chưa được bồi dưỡng về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, pháp luật... Tuổi bình quân của đảng viên vùng biển ngày một cao, có đảng bộ tuổi bình quân của đảng viên lên đến 56. Phương thức lãnh đạo của TCCSĐ chậm được đổi mới, còn nhiều biểu hiện bảo thủ, trì trệ nên phong trào chậm phát triển. Việc chỉ đạo của cấp trên đối với TCCSĐ vùng biển tuy có quan tâm, nhưng chưa được thường xuyên, cụ thể, sâu sát.

Từ thực tiễn hoạt động của TCCSĐ vùng biển ở nước ta trong những năm qua cũng như yêu cầu xây dựng, củng cố TCCSĐ vùng này trước đòi hỏi của thời kỳ mới, xin nêu một số kinh nghiệm:

Một là, muốn hoạt động của TCCSĐ vùng biển có hiệu quả, vững chắc thì trước hết các TCCSĐ phải nắm bắt cho được các đặc điểm vùng biển để phát huy và điều chỉnh theo hướng tích cực, có ích cho dân. Những đặc điểm tích cực như cán bộ, đảng viên và ngư dân từ trước đến nay có truyền thống yêu nước, dũng cảm, kiên cường trong đấu tranh chống thực dân, đế quốc, chống thiên tai, cần cù, sáng tạo trong xây dựng quê hương, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới. Nhiều nơi có bản sắc văn hóa độc đáo và phong phú. Với tiềm năng kinh tế lớn và đa dạng, kinh tế biển đã trở thành mũi nhọn của quốc gia. Song, vùng biển vẫn là vùng kinh tế - xã hội phát triển chậm, là nơi mà nhân dân phải gánh chịu nhiều hậu quả về người và của do thiên tai, bão lụt gây ra, môi trường bị ô nhiễm, có nơi phong tục tập quán còn lạc hậu, mặt bằng dân trí còn thấp, chịu nhiều sức ép về số dân do chưa thực hiện tốt chính sách kế hoạch hóa gia đình... Nếu các TCCSĐ vùng biển phát huy đúng mức yếu tố tích cực và khắc phục kịp thời các mặt còn hạn chế thì sẽ tạo ra sức mạnh to lớn, thúc đẩy các phong trào phát triển đi lên.

Hai là, phải tổ chức cho các cấp ủy viên, đảng viên nghiên cứu, quán triệt các quy định về chức năng, nhiệm vụ của chi bộ, đảng bộ cơ sở xã, phường. Từ đó các TCCSĐ vùng biển phấn đấu thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ với tư cách là hạt nhân chính trị, lãnh đạo chính quyền thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước, quản lý nông thôn, đô thị; tập trung xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, nông thôn, phố phường giàu mạnh, văn minh; làm cho đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân vùng biển không ngừng cải thiện; làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Ba là, phải tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo của TCCSĐ vùng biển. Đây là vấn đề bức xúc, là một trong những nội dung rất quan trọng trong quá trình xây dựng, củng cố TCCSĐ vùng biển. Đổi mới phương thức lãnh đạo vừa để nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, vừa tăng cường trách nhiệm và hiệu quả quản lý, điều hành của HĐND, UBND, nâng cao vai trò của mặt trận và các đoàn thể nhân dân, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị ở vùng biển; đồng thời khắc phục các biểu hiện về buông lỏng, bao biện, làm thay, cũng như sự trì trệ, bảo thủ của một số TCCSĐ.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của TCCSĐ vùng biển là đổi mới các hình thức, phương pháp, quy trình, lề lối làm việc, mà trước tiên phải đổi mới cho được nhận thức của các cấp ủy, cán bộ, đảng viên ở vùng biển. Phải làm cho đảng viên ở các chi bộ nhận thức đúng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ. Bằng mọi cách phải đảm bảo cho được chế độ sinh hoạt chi bộ hàng tháng, nhưng hình thức, thời gian sinh hoạt có thể vận dụng linh hoạt cho phù hợp với số đảng viên đánh bắt hải sản xa bờ dài ngày, số đảng viên đi làm ăn xa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi đảng viên đều được tham gia sinh hoạt chi bộ.

Việc ra nghị quyết cũng phải được đổi mới. Nghị quyết của các chi, đảng bộ vùng biển phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ làm, đáp ứng những vấn đề bức xúc, thiết thực mà cuộc sống của cán bộ, đảng viên, nhân dân tại chỗ đặt ra. Chi ủy cần đầu tư nghiên cứu, đưa ra chi bộ thảo luận và ban hành một số nghị quyết chuyên đề. Ví như chấn chỉnh và cải tiến sinh hoạt chi bộ; lãnh đạo việc giảm nghèo ở xã, phường, thôn, tổ dân phố; đảng viên làm giàu chính đáng; phát triển giao thông nông thôn; triển khai và quản lý tốt các dự án đầu tư; vệ sinh môi trường vùng biển; phát triển đảng viên; thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình; thực hiện nếp sống văn hóa mới; tự học tập vươn lên của đảng viên... có như vậy nội dung sinh hoạt chi bộ vùng biển mới sâu sắc, phong phú, hiệu quả, thu hút sự chú ý của đảng viên.

Bốn là, quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên. Đây là đòi hỏi bức xúc để góp phần nâng cao dân trí vùng biển. Bản thân từng cán bộ, đảng viên phải có ý thức tự phấn đấu vươn lên trong học tập, cả về học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị; đồng thời các cấp ủy cần có các chế tài đối với cán bộ, đảng viên về học tập.

Để khắc phục sự hẫng hụt về trình độ học vấn của cán bộ, đảng viên vùng biển, các huyện, thị, quận phải tích cực mở các lớp bổ túc THPT theo cụm địa bàn dân cư để tạo điều kiện thuận lợi cho số cán bộ, đảng viên chưa tốt nghiệp THPT theo học và trên nền học vấn cơ bản này để tiếp tục đưa cán bộ, đảng viên đi học lý luận chính trị trung cấp, cao cấp, đi học trung cấp chuyên môn, nghiệp vụ. Đồng thời thường xuyên tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên để từng người cập nhật những kiến thức cơ bản về công vụ, pháp luật, về hành chính... nhằm từng bước chuẩn hóa trình độ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Khi kiến thức, trình độ của đội ngũ cán bộ được nâng lên thì sẽ tác động trực tiếp đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ vùng biển.

Bờ biển nước ta với những thắng cảnh đẹp và hấp dẫn từ Móng Cái đến Hà Tiên, có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, quốc phòng và an ninh, đang chuyển động theo hướng CNH, HĐH. Hiện nay số tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) vùng biển chiếm 4,01% tổng số TCCSĐ toàn quốc. Yêu cầu xây dựng, củng cố TCCSĐ vùng biển trong thời kỳ mới là tạo ra cho được giá trị mới tốt, vững chắc hơn, thực sự là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, làm cho vùng biển giàu đẹp, văn minh, dân sinh, dân trí, dân chủ không ngừng cải thiện và nâng cao.

ý thức được trách nhiệm đó, trong những năm qua, các TCCSĐ vùng biển đã có nhiều cố gắng lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, nhờ vậy, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ... đã phát triển hơn, đem lại những kết quả đáng kể; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước; bộ mặt nông thôn, đô thị có những biến đổi sâu sắc; tình hình an ninh chính trị khá ổn định. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới. Đội ngũ cán bộ, đảng viên vùng biển ngày một trưởng thành về nhiều mặt, số cán bộ tốt nghiệp THPT chiếm từ 27 đến 30%; số cán bộ đã học xong chương trình lý luận chính trị trung cấp chiếm từ 30 đến 35%. Gần 65% số đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhiều TCCSĐ phấn đấu đạt tiêu chuẩn TSVM. Trong những năm qua, các chi bộ, đảng bộ đã kết nạp được hàng nghìn đảng viên, nhờ vậy vừa thu hẹp dần các thôn, xóm, tổ dân phố chưa có tổ chức đảng, vừa tạo nguồn cán bộ ở vùng biển trong tương lai.

Tuy vậy, TCCSĐ vùng biển nước ta vẫn còn những mặt hạn chế, bất cập, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ có mặt chưa tương xứng yêu cầu, nhiệm vụ. Kiến thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên có mặt còn hẫng hụt: 65-70% số cán bộ xã, phường chưa tốt nghiệp THPT; 60-65% số cán bộ chưa học lý luận chính trị; nhiều cán bộ, đảng viên chưa được bồi dưỡng về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, pháp luật... Tuổi bình quân của đảng viên vùng biển ngày một cao, có đảng bộ tuổi bình quân của đảng viên lên đến 56. Phương thức lãnh đạo của TCCSĐ chậm được đổi mới, còn nhiều biểu hiện bảo thủ, trì trệ nên phong trào chậm phát triển. Việc chỉ đạo của cấp trên đối với TCCSĐ vùng biển tuy có quan tâm, nhưng chưa được thường xuyên, cụ thể, sâu sát.

Từ thực tiễn hoạt động của TCCSĐ vùng biển ở nước ta trong những năm qua cũng như yêu cầu xây dựng, củng cố TCCSĐ vùng này trước đòi hỏi của thời kỳ mới, xin nêu một số kinh nghiệm:

Một là, muốn hoạt động của TCCSĐ vùng biển có hiệu quả, vững chắc thì trước hết các TCCSĐ phải nắm bắt cho được các đặc điểm vùng biển để phát huy và điều chỉnh theo hướng tích cực, có ích cho dân. Những đặc điểm tích cực như cán bộ, đảng viên và ngư dân từ trước đến nay có truyền thống yêu nước, dũng cảm, kiên cường trong đấu tranh chống thực dân, đế quốc, chống thiên tai, cần cù, sáng tạo trong xây dựng quê hương, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới. Nhiều nơi có bản sắc văn hóa độc đáo và phong phú. Với tiềm năng kinh tế lớn và đa dạng, kinh tế biển đã trở thành mũi nhọn của quốc gia. Song, vùng biển vẫn là vùng kinh tế - xã hội phát triển chậm, là nơi mà nhân dân phải gánh chịu nhiều hậu quả về người và của do thiên tai, bão lụt gây ra, môi trường bị ô nhiễm, có nơi phong tục tập quán còn lạc hậu, mặt bằng dân trí còn thấp, chịu nhiều sức ép về số dân do chưa thực hiện tốt chính sách kế hoạch hóa gia đình... Nếu các TCCSĐ vùng biển phát huy đúng mức yếu tố tích cực và khắc phục kịp thời các mặt còn hạn chế thì sẽ tạo ra sức mạnh to lớn, thúc đẩy các phong trào phát triển đi lên.

Hai là, phải tổ chức cho các cấp ủy viên, đảng viên nghiên cứu, quán triệt các quy định về chức năng, nhiệm vụ của chi bộ, đảng bộ cơ sở xã, phường. Từ đó các TCCSĐ vùng biển phấn đấu thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ với tư cách là hạt nhân chính trị, lãnh đạo chính quyền thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước, quản lý nông thôn, đô thị; tập trung xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, nông thôn, phố phường giàu mạnh, văn minh; làm cho đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân vùng biển không ngừng cải thiện; làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Ba là, phải tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo của TCCSĐ vùng biển. Đây là vấn đề bức xúc, là một trong những nội dung rất quan trọng trong quá trình xây dựng, củng cố TCCSĐ vùng biển. Đổi mới phương thức lãnh đạo vừa để nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, vừa tăng cường trách nhiệm và hiệu quả quản lý, điều hành của HĐND, UBND, nâng cao vai trò của mặt trận và các đoàn thể nhân dân, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị ở vùng biển; đồng thời khắc phục các biểu hiện về buông lỏng, bao biện, làm thay, cũng như sự trì trệ, bảo thủ của một số TCCSĐ.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của TCCSĐ vùng biển là đổi mới các hình thức, phương pháp, quy trình, lề lối làm việc, mà trước tiên phải đổi mới cho được nhận thức của các cấp ủy, cán bộ, đảng viên ở vùng biển. Phải làm cho đảng viên ở các chi bộ nhận thức đúng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ. Bằng mọi cách phải đảm bảo cho được chế độ sinh hoạt chi bộ hàng tháng, nhưng hình thức, thời gian sinh hoạt có thể vận dụng linh hoạt cho phù hợp với số đảng viên đánh bắt hải sản xa bờ dài ngày, số đảng viên đi làm ăn xa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi đảng viên đều được tham gia sinh hoạt chi bộ.

Việc ra nghị quyết cũng phải được đổi mới. Nghị quyết của các chi, đảng bộ vùng biển phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ làm, đáp ứng những vấn đề bức xúc, thiết thực mà cuộc sống của cán bộ, đảng viên, nhân dân tại chỗ đặt ra. Chi ủy cần đầu tư nghiên cứu, đưa ra chi bộ thảo luận và ban hành một số nghị quyết chuyên đề. Ví như chấn chỉnh và cải tiến sinh hoạt chi bộ; lãnh đạo việc giảm nghèo ở xã, phường, thôn, tổ dân phố; đảng viên làm giàu chính đáng; phát triển giao thông nông thôn; triển khai và quản lý tốt các dự án đầu tư; vệ sinh môi trường vùng biển; phát triển đảng viên; thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình; thực hiện nếp sống văn hóa mới; tự học tập vươn lên của đảng viên... có như vậy nội dung sinh hoạt chi bộ vùng biển mới sâu sắc, phong phú, hiệu quả, thu hút sự chú ý của đảng viên.

Bốn là, quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên. Đây là đòi hỏi bức xúc để góp phần nâng cao dân trí vùng biển. Bản thân từng cán bộ, đảng viên phải có ý thức tự phấn đấu vươn lên trong học tập, cả về học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị; đồng thời các cấp ủy cần có các chế tài đối với cán bộ, đảng viên về học tập.

Để khắc phục sự hẫng hụt về trình độ học vấn của cán bộ, đảng viên vùng biển, các huyện, thị, quận phải tích cực mở các lớp bổ túc THPT theo cụm địa bàn dân cư để tạo điều kiện thuận lợi cho số cán bộ, đảng viên chưa tốt nghiệp THPT theo học và trên nền học vấn cơ bản này để tiếp tục đưa cán bộ, đảng viên đi học lý luận chính trị trung cấp, cao cấp, đi học trung cấp chuyên môn, nghiệp vụ. Đồng thời thường xuyên tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên để từng người cập nhật những kiến thức cơ bản về công vụ, pháp luật, về hành chính... nhằm từng bước chuẩn hóa trình độ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Khi kiến thức, trình độ của đội ngũ cán bộ được nâng lên thì sẽ tác động trực tiếp đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ vùng biển.

Năm là, hoạt động của TCCSĐ vùng biển tiến bộ, tích cực hay hạn chế, khiếm khuyết phụ thuộc rất lớn vào sự chỉ đạo của cấp trên. Cấp trên chỉ đạo TCCSĐ vùng biển phải thường xuyên, liên tục, sâu sát, cụ thể. Đối với những TCCSĐ làm tốt thì kịp thời khích lệ, biểu dương, tổ chức rút kinh nghiệm, nhân điển hình phổ biến chung. Đối với các TCCSĐ yếu kém, chậm vươn lên thì đi sâu tìm hiểu kỹ nguyên nhân, để từ đó đề ra các biện pháp tích cực, đột phá để củng cố kiện toàn một cách có hiệu quả. Đối với các TCCSĐ để xảy ra điểm nóng thì các cấp ủy đảng, HĐND, UBND, mặt trận và các đoàn thể tỉnh, huyện, quận, thị khẩn trương phân công cán bộ có năng lực, tổ chức các đoàn công tác cùng với các xã, phường có điểm nóng tập trung chỉ đạo, tìm giải pháp tích cực để tháo gỡ, sớm ổn định tình hình, củng cố niềm tin của nhân dân. Đối với những cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vi phạm phải kịp thời chỉ đạo kiểm điểm làm rõ, xử lý nghiêm minh, tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Một năm mới, một chặng đường mới bắt đầu. Biển bạc nước ta đã và đang chuyển động. Tin chắc rằng sẽ tiếp tục chuyển động tích cực hơn nếu các TCCSĐ vùng biển thường xuyên được xây dựng, củng cố, đổi mới và không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu.

THIẾU TƯỚNG VÕ TRỌNG VIỆT
Bí thư Đảng ủy, Phó Tư lệnh Chính trị BĐBP
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 4 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS