Học và làm theo Bác
Bài thơ không dự thi
9:25' 20/11/2008


Năm 1973, thầy giáo Bùi Văn Huyền từ quê hương Bắc Ninh chuyển về quê vợ ở thôn Thái Bình, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội). Sau khi được địa phương cấp cho sào đất ở đầu làng, 3 mặt giáp đường đi, thầy dốc vốn liếng xây dựng được căn nhà 4 gian tranh tre, tường xây gạch mộc và cái bếp ngăn hai: Bên rộng để thổi nấu, bên hẹp làm chuồng chăn lợn, nuôi gà. Bởi là đảng viên, thầy được Đảng uỷ xã phân công làm công tác tuyên giáo nhiều khoá liền.

Chỗ ở ổn định, thầy tới nhiều nhà mượn từng tấm ván bìa gỗ cũ, đòn kê về sắp xếp thành ghế ngồi, bàn viết để mở lớp dạy học không thu tiền cho trẻ em chưa biết chữ hoặc còn đang đi học nhưng học quá kém. Thầy tự tay viết những chữ lớn trên các tấm giấy dày, bìa cứng để treo tường. Tường hậu phía bên trên ban thờ có bức đại tự viết 4 chữ nho: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Hai bên treo hai vế đối: Đừng chết trước khi chết! Chớ nghèo đang lúc nghèo! Có người hỏi về mấy câu chữ ấy thì thầy nói là để giữ mình và giữ nhà. Phía trước lớp học, bên trên tấm bảng đen treo chân dung Bác Hồ, tay phải giơ cao vẫy chào. Bức ảnh được lồng trong khung kính. Sát dưới là khung kính lồng bài thơ có nhan đề: "Trọn theo lời Bác". Trên tường phía cuối lớp treo bài thơ thể đường luật có nhan đề "Tự ngẫm”. Ban đầu không ít người cho thầy khoe chữ, việc mở lớp chỉ là bốc đồng buổi mới về quê vợ, khéo lắm chỉ vài tháng là tan. Kể cũng có lý, bởi nhà 5 miệng ăn mà chỉ một bà vợ là lao động chính thì công điểm hợp tác xã phỏng được là bao. Thầy thì có quyển sổ gạo 13kg/tháng với 38 đồng trợ cấp. Bởi vậy bà vợ thường cùng với nhiều người phải đạp xe lên miền núi xa mua sắn về bán, kiếm vài ba cân lãi thêm vào nồi cơm gia đình.

Thế rồi người ta luôn đọc thấy, nghe thấy những bài viết về người tốt, việc tốt trên báo, đài, tác giả là Tuấn Dũng kèm theo địa chỉ thôn Thái Bình, xã Đồng Thái. Tìm hiểu ra mới biết Tuấn Dũng chính là Bùi Văn Huyền, ai nấy nhìn thầy với con mắt khác trước và ngày càng cảm phục. Với hai việc dạy học miễn phí và viết báo, tiếng tăm thầy đã nhanh chóng vang xa. Khi 3 đứa con tôi lần lượt được học thêm thầy ngoài buổi học trên lớp trường tiểu học, tôi mới bước đầu hiểu thầy. Thầy dạy rất có phương pháp sư phạm. Thầy khơi dậy tâm lý tự tin, thích học cho học sinh. Năm tôi được điều về làm hiệu phó trường THCS địa phương, tôi càng hiểu thầy hơn. Nhà tôi ở gần nhà thầy, hai bên gia đình càng gần gũi, thân thiết. Thầy hay có nhiều báo, tạp chí gửi biếu, sách thơ gửi tặng, tôi đều mượn về đọc rồi cùng trao đổi thêm nhiều điều. Bảy năm trước, tôi tò mò hỏi thầy những nghĩa chữ thầy dán treo, nhất là bài thơ thể lục bát, thì thầy giãi bày:

Tuổi nhỏ, thầy sớm mồ côi mẹ, cảnh nhà nghèo nên học hành được ít. Tuổi trưởng thành, thầy mang theo mảnh bằng cao đẳng tiểu học Pháp - Việt (cấp tiểu học hiện nay) vào nhiều làng quê xin chỗ dạy học nhưng không được, phải vào ở nhà chùa lấy chỗ nương thân. Bởi tham gia truyền bá quốc ngữ nên năm 1942 thầy gặp được cán bộ cách mạng tại Bắc Ninh quê nhà. Năm 1947, thầy được nhập đoàn cán bộ tăng cường Việt Bắc. Hai lần thầy được bác Tôn Đức Thắng trực tiếp chỉ giáo, động viên thầy tự học nâng cao kiến thức và tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng trong những việc làm ích nước lợi dân. Thầy đã tự thề “trọn đời làm theo lời Bác”.

Năm 1951, thầy được chuyển ngành sang công tác dạy học cấp I tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Tháng 4-1965, thầy nhận quyết định về hưu bởi mắt bị đục thuỷ tinh thể. Tháng 11-1969, thầy đi điều trị, được mổ đục thuỷ tinh thể một bên mắt, mổ xong được phát thuốc ngủ. Thầy giấu đi 2 viên với ý định: Nếu ca mổ bị thất bại thì khi về nhà sẽ mua thêm chai nước rấm thanh uống với 2 viên thuốc ngủ mà quyên sinh. Bởi tuổi đã ngoài 50 mà rơi vào cảnh mù loà, phải dựa vào người em nào thì khó khăn vất vả cho người em ấy... May mắn được thoát cảnh màn đêm, thầy mang niềm vui sướng: Thế là còn được tiếp tục làm theo lời Bác. Rời quê, thầy lên xóm Soi Mít trong vùng Núi Cốc, một nơi dạy học cũ, khai hoang trồng chè búp, sống cảnh độc thân.

Năm 1970, được tin có phát động thi thơ với đề tài “Học tập và làm theo Di chúc của Bác", thầy suy nghĩ và thử bút. Thầy cũng không hiểu sao, chỉ sau hơn nửa giờ nghỉ giải lao, thầy viết được:

Bác đi Di chúc mãi còn

Sáng soi đường lối, nước non thuận chiều.

Bác đi để lại bao điều

Quý như hạt gạo sớm chiều nuôi nhau.

Bác đi để mãi về sau

Trái tim sắt đá, nhịp cầu đấu tranh.

Bác đi mình tạc dạ mình

Trọn theo lời Bác vẹn tình nước non.

Thầy đặt tên bài thơ là “Trọn theo lời Bác” và treo dưới tấm ảnh Bác Hồ. Nhiều bạn cũ cùng hoạt động cách mạng, cùng là giáo viên, không ít người sành thơ văn hay tin thầy có chỗ ở mới luôn gửi thư thăm hỏi hoặc tìm lên thăm. Đọc bài thơ ai cũng ngỏ lời tâm đắc. Có người nói: Bốn câu tám dòng đều mở đầu bằng hai từ “Bác đi”, sao lại không dùng hai từ này làm nhan đề? Thầy bày tỏ: Tôi muốn “Trọn theo lời Bác” là cả Bác Hồ và Bác Tôn.

Mấy bạn cùng có ý kiến “Sao không gửi dự thi? Biết đâu lại được giải, được tiếng thơm, lại có cả tiền thưởng?” Thầy cười: “Tôi làm cốt để học và làm theo lời Bác. Còn dự thi, nếu có phần thưởng hàng triệu mà chỉ học, không hành thì giải và thưởng cũng chẳng có nghĩa gì”.

Cuối năm 1972, thầy gặp được người nữ công nhân thuỷ lợi đi xây đập hồ núi Cốc. Hai người tâm đầu ý hợp, nên vợ, nên chồng; thầy bán khu đồi chè lấy vốn chuyển về quê vợ. Y như lời thầy đã trả lời bạn cũ về bài thơ không gửi dự thi, bố đẻ tôi thường kể chuyện với anh em tôi về những việc làm “khác lạ” của thầy mấy năm đầu về đây mà bố tôi cũng như nhiều người đã chứng kiến:

Sào đất ở được cắm, thầy trồng hàng rào cây xanh. Hai mặt tiếp giáp đường đi thầy trồng thụt vào đất nhà mình nửa mét để khi cây toả tán không làm hẹp mặt đường. Mặt tiếp giáp lối ngõ xóm thầy không chỉ trồng thụt vào những hơn l mét mà còn lại vát góc để xe hai mặt đường lưu thông gặp nhau khỏi va quệt tránh gây tai nạn. Một lần cán bộ đội sản xuất giao cho hộ nhà thầy 2 tạ lúa tươi để phơi, khi nộp trả thóc khô, do cán bộ ghi nhầm sổ, chỉ thu số lúa khô tính theo một tạ lúa tươi, thầy tự nộp trả theo 2 tạ. Lại chuyện thời bao cấp, có lần thầy lên cửa hàng bách hoá chợ Mơ mua 2m vải cắt phiếu. Về nhà, gặp lúc có mấy bà con xóm ngõ sang chơi, thầy giở ra đo lại thì thấy được những 4,3m, ai nấy cười ồ vui vẻ mừng cho thầy, nhưng thầy tức khắc đạp xe mang lên trả lại để lấy mảnh 2m.

Ở đầu thôn có cây si hơn 300 năm tuổi là cây cổ thụ duy nhất còn lại trong cả xã, ở cách nhà thầy hơn trăm mét. Từ năm đầu về đây cho đến nay, mỗi khi thấy có người đẵn cành, bập vỏ lấy nhựa thì dù nắng hè cũng như gió đông thầy đều vội vã bước ra lựa lời can ngăn bảo vệ. Việc tưởng như nhỏ nhặt nhưng là của chung có ai đã nghĩ và làm? Công việc sưu tầm biên soạn lịch sử xã và thôn, ban sử được thành lập nhưng chỉ sau 6 tháng thì người này, người khác viện cớ xin rút, một mình thầy tận tụy thêm suốt 7 năm hoàn thành cuốn lịch sử xã và cuốn lịch sử riêng thôn Thái Bình mà không đòi hỏi một đồng thù lao của tập thể. Chỉ duy có việc viết báo là thầy nhận tiền nhuận bút để đầu tư vào lớp học và đưa thêm cho vợ trang trải cuộc sống gia đình.

Ngòi bút nghiệp dư của thầy đã giúp cho 7 thôn làng trong tỉnh có cơ sở vận động quyên góp đại tu được đình, chùa, đền thờ và được xếp hạng di tích lịch sử hay văn hoá. Từ bài viết của thầy mà 2 làng xây dựng được bia tưởng niệm. Đó là bia tưởng niệm liệt sĩ Phùng Trần Loan ở làng Thái Bình quê tôi và bia tưởng niệm liệt sĩ anh hùng Nguyễn Thị Lạp ở làng Phụ Chính, xã Hoà Chính, huyện Chương Mỹ. Có 2 trường hợp cán bộ tốt trong huyện bị vu khống suýt mất chức. Ngòi bút của thầy đã giải cứu cho họ. Một người sau này có cuộc sống khá muốn mượn việc thầy mở lớp học từ thiện mà giúp thầy một số tiền lớn, song thầy cảm ơn và dứt khoát từ chối.

Tháng 5-1996, thầy hoàn thành biên soạn tập “Dự biên chữ viết Việt Nam” nêu lên bộ chữ quốc ngữ hiện hành có 10 điểm cần sửa cho thích hợp với cách ghép vần ghép tiếng Việt Nam dâng mừng Đại hội VIII của Đảng khai mạc ngày 5-6-1996. Tập sách được Ban Khoa giáo Trung ương công nhận là một công trình khoa học, chuyển sang Viện Ngôn ngữ Việt Nam nghiên cứu. Thầy được mời dự hội thảo “Đại biểu tiêu biểu toàn quốc các thế hệ nhà giáo Việt Namdịp 11-1996. Tháng 11-2007, thầy được Hội Cựu giáo chức Việt Nam mời dự buổi gặp mặt “Tôn vinh các thế hệ nhà giáo Việt Nam” tập sách “Dự biên chữ viết Việt Nam” được dâng lên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.

Những sự việc nêu lên đây cũng chỉ là một phần những gì thầy giáo Bùi Văn Huyền đã quyết tâm học và làm theo lời dạy của Bác Hồ, bác Tôn. Hiện nay toàn Đảng, toàn dân đang "học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", thì những việc làm bền bỉ, lặng lẽ trọn theo lời Bác của nhà giáo Bùi Văn Huyền quả là có ý nghĩa nhiều mặt.

Xuân Mậu Tý - 2008, thầy lên tuổi 90, đôi mắt mờ thêm nhiều, một bên tay đau buốt, đôi chân bước chậm chạp bởi suy nhược thần kinh nhưng thầy vẫn tiếp tục đứng lớp. Phóng viên Lưu Công Luận báo Hải quân Việt Nam tìm về Đồng Thái gặp buổi dạy của thầy Huyền, sau khi tìm hiểu, có phỏng vấn thầy: Thường người về hưu, tuổi đời còn dưới thầy một, hai giáp đã nghĩ phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng tuổi già mà thầy sức yếu thế này vẫn chưa nghỉ? Thầy có mong muốn điều gì? Thầy cười hiền, nhỏ nhẹ: Còn sức nào còn tiếp tục góp phần cống hiến đó là điều đã bám rễ sâu vào lẽ sống của tôi. Tôi mong muốn còn đứng được lớp thêm nhiều năm tháng nữa để tôi đừng chết trước khi chết.

Phùng Trần Tính
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS