Đảng viên
Từ kết quả phát triển đảng viên năm 2008
18:41' 14/4/2009


Năm 2008, toàn Đảng kết nạp được 184.720 đảng viên, nâng tổng số đảng viên toàn Đảng lên gần 3,5 triệu đảng viên. Có 34.305 tổ chức cở sở đảng kết nạp được đảng viên, chiếm 68,17% tổng số TCCSĐ có nguồn kết nạp. Trong số đảng viên mới được kết nạp, tỷ lệ đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là 66,64%, nữ chiếm 37,04%; nông dân 20,04%; lực lượng vũ trang 19,09%; người dân tộc thiểu số 12,46%; công nhân lao động trong các thành phần kinh tế 7,28%… Đảng viên có trình độ THPT chiếm 90,29%; được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ 67,73%, tăng 2,25% so với năm 2007, trong đó trình độ trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, trên đại học tăng với các tỷ lệ 4,69%, 2,4%, 2,78% và 0,58%. Tuổi bình quân của đảng viên được kết nạp là 29,05, trẻ hơn 0,17 tuổi so với năm 2007. 

Kết quả phát triển đảng viên năm 2008 cho thấy: Chất lượng đảng viên được nâng lên, nhất là về trình độ học vấn. Số đảng viên được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là số có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học tăng, tuổi đời giảm. Có được kết quả trên là do các cấp uỷ đều chú trọng lựa chọn quần chúng tiêu biểu, đủ tiêu chuẩn để phát triển đảng nhằm nâng cao chất lượng, không chạy theo số lượng.

Trong công tác tạo nguồn phát triển đảng viên, nhiều cấp uỷ đã làm chặt chẽ từ khâu đánh giá, lựa chọn những người tiêu biểu cử đi học lớp tìm hiểu về Đảng. Sau đó tạo điều kiện, môi trường để cảm tình đảng rèn luyện, phấn đấu, khẳng định mình. Các cấp uỷ, tổ chức đảng nghiêm túc trong bảo đảm các nguyên tắc, thủ tục. Có 35/67 đảng bộ có số đảng viên được kết nạp tăng, trong đó 4 đảng bộ có số kết nạp tăng trên 10% là Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương, Công an Trung ương, Bạc Liêu, Cao Bằng.

Bên cạnh những ưu điểm, công tác phát triển đảng viên năm 2008 vẫn có những hạn chế: So với năm 2007 có 32/67 đảng bộ có số đảng viên mới kết nạp giảm, tỷ lệ đảng viên được kết nạp là nông dân giảm 10,26%; học sinh, sinh viên giảm 13,51%.

Nguyên nhân của những hạn chế là do một số cấp uỷ đề ra chủ trương, kế hoạch, biện pháp và thực hiện chưa sát với đặc điểm của đơn vị. Trong chỉ đạo thực hiện chưa làm tốt công tác tư tưởng, tổ chức; chưa gắn phát triển đảng viên với yêu cầu xây dựng đội ngũ đảng viên; chưa thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện. Có nơi việc tạo nguồn phát triển đảng viên, xét kết nạp chưa đảm bảo yêu cầu về chất lượng và còn chậm. Một số cơ quan tham mưu của cấp uỷ và cán bộ trực tiếp làm công tác nghiệp vụ đảng chưa trách nhiệm, thiếu chủ động trong phối hợp, nhất là với các tổ chức quần chúng nên chưa giúp cấp uỷ thực hiện tốt chủ trương, kế hoạch phát triển đảng viên. Một số vấn đề liên quan đến đảng viên chưa được Trung ương quy định cụ thể như hướng dẫn thực hiện Quy định số 15 của Ban Chấp hành Trung ương “Về đảng viên làm kinh tế tư nhân”; kết nạp đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân; đảng viên thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; xác định thành phần giai cấp hiện nay... nên nhiều cấp uỷ còn lúng túng, chưa thống nhất khi giải quyết những trường hợp cụ thể.

Từ thực tế rút ra một số kinh nghiệm:

Một là: Các cấp uỷ phải xác định thực hiện công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên. Cần quán triệt sâu sắc, nghiêm túc các quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác đảng viên gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ để thống nhất nhận thức và hành động.

Hai là: Các cấp uỷ phải trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng đội ngũ đảng viên, TCCSĐ, kết quả thực hiện công tác phát triển đảng viên của đảng bộ để đề ra chủ trương, kế hoạch, giải pháp sát tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng phát triển đảng viên, sớm khắc phục tình trạng một số cơ sở, địa bàn chưa có đảng viên, chưa có tổ chức đảng.

Ba là: Việc nâng cao chất lượng phát triển đảng viên phải trên cơ sở thực hiện đúng phương châm, phương hướng, tiêu chuẩn, điều kiện, nguyên tắc, thủ tục kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức theo quy định của Điều lệ Đảng, hướng dẫn của Trung ương; phải làm tốt ngay từ khi tạo nguồn phát triển đảng viên.

Bốn là: Các cơ quan tham mưu của cấp uỷ (nhất là ban tổ chức), các đoàn thể chính trị - xã hội (nhất là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh) nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực, chủ động trong việc phối hợp giúp cấp uỷ tổ chức thực hiện công tác phát triển đảng viên.

Năm là: Cấp uỷ cấp trên thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện của cấp uỷ cấp dưới; coi trọng việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, kịp thời bổ sung kế hoạch, biện pháp sát với yêu cầu thực tế đặt ra.

Phạm Quang Hà Phòng Thông tin tổng hợp, Ban Tổ chức Trung ương

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2013
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS