Bộ đội Biên phòng (BĐBP) xứng đáng là những chiến sĩ “Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Họ thường có mặt ở những nơi đặc biệt khó khăn thuộc vùng cao biên giới và hải đảo xa xôi. Vì sự bình yên của Tổ quốc và nhân dân, họ sống đồng cam cộng khổ với nhân dân, không kể ngày, đêm, mưa, rét tuần tra biên giới, phòng chống buôn lậu, ma túy; gây dựng phong trào, vận động nhân dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo vệ chủ quyền, an ninh của Tổ quốc. Trong đội ngũ đó có biết bao tấm gương sáng “tận trung với nước, tận hiếu với dân” mà trong giới hạn bài viết này, chỉ có thể nói về hai gương mặt trong hàng ngàn những tấm gương đó.
Người cán bộ tăng cường tận tụy.
 |
|
Đồng chí Nguyễn Xanh (thứ 2 từ trái sang) giao bò cho bà con.
Ảnh: TL
|
Đã tròn 10 năm lăn lộn với cơ sở nhưng Đại úy Nguyễn Xanh, cán bộ tăng cường của BĐBP tỉnh Quảng Nam vẫn chưa quên được cảm giác ban đầu khi đặt chân tới xã La Dê vào năm 1998. Đây là xã vùng cao biên giới của huyện Nam Giang, có 10 bản với trên 2.000 dân, chủ yếu là dân tộc Ve, Tà Riềng và Cơ Tu. Đồng bào sống phân tán, tập quán sản xuất rất lạc hậu, phụ thuộc vào thiên nhiên, nên đời sống còn vô cùng khó khăn. Trước thực tế đó, anh nghĩ việc đầu tiên là làm cho dân đủ ăn bằng cách phát triển sản xuất, thay đổi cách canh tác. Qua khảo sát và bằng kiến thức từ các lớp tập huấn, anh vận động một số gia đình làm lúa nước. Những vạt lúa thí điểm với giống ngắn ngày, phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu của La Dê đã cho thu hoạch khá cao, nhiều gia đình bắt đầu tin và làm theo. Thấy bà con dùng cuốc cào làm đất quá vất vả, anh vận động và hướng dẫn đồng bào dùng trâu, bò làm sức kéo. Được ban chỉ huy Đồn 657 và UBND huyện cấp 6 triệu đồng vốn, anh về tận quê ở huyện Đại Lộc tìm mua trâu dắt bộ về. Kỷ niệm mà anh nhớ mãi trong chuyến đi ấy là khi vượt ngầm Tà Un bằng bè, vì quá nặng nên cả người và trâu suýt bị chìm xuống sông. Ngày đi, đêm ngủ nhờ nhà dân, mất 7 ngày để vượt qua quãng đường 120 km mới đưa được trâu về đến xã. Hướng dẫn đồng bào biết dùng trâu cày bừa, sử dụng phân bón, nước tưới tiêu kết hợp với thí điểm trồng đậu, lạc không phải dễ. Đó là cả quá trình thay đổi một tập quán sản xuất đã lâu đời. Anh còn vận động đồng bào tích cực chăn nuôi, tham gia vào “Dự án ngân hàng bò” do bộ chỉ huy BĐBP tỉnh làm chủ đầu tư. Sau hai năm thực hiện, đã cho nhân dân vay 85 triệu đồng để phát triển đàn bò, nhiều hộ nhận nuôi 2 đến 3 con và đem lại hiệu quả kinh tế. Từ mô hình thí điểm VACR (vườn, ao, chuồng, rừng) ở 14 gia đình đạt kết quả, nhiều hộ trở thành khá và giàu, anh vận động nhân dân toàn xã làm theo. Đồng thời với giúp dân làm kinh tế, anh tham mưu cho địa phương kết hợp với Đội Vận động quần chúng của Đồn 657 củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị của xã. Mở đầu là cuộc vận động xây dựng làng, xã văn hóa. Nhân dân đã góp 825 ngày công xây dựng, tu sửa, khôi phục nhà văn hóa. Đến nay đã có 6/10 đạt tiêu chuẩn thôn văn hóa, trong đó có 1 thôn đạt tiêu chuẩn thôn văn hóa cấp tỉnh 4 năm liền. Anh phối hợp cùng với các đoàn thể trong xã tổ chức các lớp học tình thương, vận động trẻ em bỏ học tới trường; vận động nhân dân từ bỏ phong tục, tập quán lạc hậu trong ma chay, cưới xin, cúng bái. Đồng thời, triển khai tốt dự án phủ sóng truyền hình, qua đó nâng cao dân trí, giúp đồng bào hiểu biết về đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Xã La Dê đã trở thành điểm sáng văn hóa trên khu vực biên giới.
Tháng 4-2004, anh được cấp trên tăng cường về xã La Êê trong vai trò đảng ủy viên, phó chủ tịch UBND, bí thư chi bộ cơ quan xã. La Êê là xã khó khăn nhất của huyện Nam Giang, một xã không có điện, điện thoại, chợ, chưa có đường ô tô tới xã, nhiều thôn xa đi bộ về xã phải mất cả ngày. Thời tiết ở đây vô cùng khắc nghiệt, mùa mưa bị cô lập hoàn toàn. Nếu 6 năm trước đây cái khó ban đầu khi mới làm cán bộ tăng cường là không biết tiếng dân tộc và phong tục tập quán thì giờ đây cái khó khăn nhất với anh là bộ máy đảng, chính quyền, đoàn thể ở La Êê hoạt động kém hiệu quả. Trụ sở làm việc chật chội, cơ sở vật chất, trang thiết bị sơ sài, thiếu thốn, vẫn còn sử dụng máy chữ có giấy than. Năng lực của đội ngũ cán bộ hạn chế, trụ sở nhiều khi không có cán bộ trực. Với những chức danh đảm nhiệm, anh tự thấy mình thiếu cả kiến thức về quản lý nhà nước, pháp luật và công tác xây dựng đảng. Bằng ý chí, quyết tâm và sự nhiệt tình, một mặt, anh tự đọc, tự học trong sách báo để bổ sung kiến thức, mặt khác đi sâu thực tế. Để nâng cao chất lượng lãnh đạo và đoàn kết thống nhất nội bộ, việc đầu tiên là phải xây dựng Quy chế hoạt động của UBND và các ban, ngành; chấn chỉnh, thực hiện nghiêm túc chế độ trực của công an, dân quân, y tế tại trụ sở; duy trì chế độ hội họp, giao ban, sinh hoạt đảng đi đôi với từng bước nâng cao chất lượng xây dựng nghị quyết, phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và đảng viên. Anh cùng với tập thể cấp ủy, chính quyền tập trung vào lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa, xóa đói, giảm nghèo, tăng cường an ninh - quốc phòng; nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân. Sau 4 năm phấn đấu, từ một đảng bộ yếu kém, nay Đảng bộ xã La Êê đã đạt trong sạch, vững mạnh; UBND và các ban, ngành, đoàn thể hoàn thành tốt nhiệm vụ; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt.
Để yên tâm, gắn bó lâu dài với sự nghiệp xây dựng biên giới, năm 2004 được bộ chỉ huy BĐBP tỉnh, UBND huyện Nam Giang tạo điều kiện, vợ anh là giáo viên đã lên dạy học ở chính địa phương anh đang công tác. Mặc dù đời sống khó khăn hơn Đà Nẵng gấp nhiều lần, nhưng vợ anh không hề kêu ca, phàn nàn, chỉ mong sao tạo thêm điều kiện để anh hoàn thành nhiệm vụ. Hiện gia đình anh đã ổn định và xác định gắn bó lâu dài với xã biên giới này, coi đây là quê hương thứ hai của mình.
Người thầy giáo không chuyên.
 |
|
Thượng úy Thao Duy Lênh trong buổi tập huấn giáo trình.
Ảnh: Hà Thư
|
Khác với Nguyễn Xanh có cái khó ban đầu là không biết tiếng dân tộc, thượng úy, đội trưởng Đội vũ trang Đồn Na Mèo, Thao Duy Lênh sinh ở Pù Nhi, Mường Lát, Thanh Hóa, là người dân tHộc Mông. Từ thực tế công tác anh nhận thấy, trong BĐBP, cán bộ, công chức là người Kinh tuy có kiến thức, có kinh nghiệm vận động quần chúng nhưng công tác ở vùng đồng bào Mông mà không biết tiếng Mông trong khi đồng bào biết quá ít tiếng Kinh thì cản trở rất lớn tới hiệu quả công tác. Trăn trở với suy nghĩ đó, sau khi tốt nghiệp Đại học Biên phòng năm 2001, anh chủ động tham mưu với ban chỉ huy Đồn, được ban chỉ huy khuyến khích và Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đồng ý, anh tiến hành soạn bộ giáo án dạy tiếng Mông cho cán bộ, chiến sĩ BĐBP. Chủ động, hăng hái nhưng khi bắt tay vào việc mới thấy khó khăn. Trước hết, phải định hình một chương trình tổng thể sao cho nội dung đáp ứng được mục tiêu đào tạo, phù hợp với trình độ học viên. Sau đó là phần biên soạn từ điển, cách phiên âm, các bài tập lý thuyết, thực hành... Mặc dù là người Mông, nhưng anh vẫn phải nghiên cứu kỹ tiếng Mông, phong tục, tập quán của người Mông, của người Việt và một số dân tộc khác, để dạy. Anh chú ý xây dựng các học phần giúp người học hiểu rõ về cách ăn, ở, ứng xử của người Mông. Tuy đã chuẩn bị trước, nhưng cũng phải mất 2 tháng miệt mài mới biên soạn xong bộ giáo án dạy tiếng Mông. Bản thân anh chủ công viết và trực tiếp lên lớp, sau mỗi lần như vậy, anh lại chỉnh sửa cho lần lên lớp sau. Có một kỷ niệm làm anh nhớ mãi. Đó là lần cùng với anh Hơ Văn Tông tìm các từ trong tiếng Việt có nhưng tiếng Mông lại không, tiếng Mông có mà tiếng Việt lại không. Do mải suy nghĩ mà đến 17 giờ khi bước ra hội trường Hơ Văn Tông quên cả đi dép! Trong quá trình biên soạn, nhiều từ anh phải tra cứu, gọi điện hỏi những nhà ngôn ngữ học, từ điển học ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh. Bộ giáo án hoàn thành, được phiên âm từ tiếng Việt sang tiếng Mông và ngược lại. Đồng thời đưa vào giảng dạy ở 5 khóa đào tạo, tập huấn (từ 2002-2006) cho hơn 200 học viên là cán bộ, công chức, cán bộ, chiến sĩ biên phòng và bộ đội thuộc hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An. Thời gian mỗi khóa là 5-6 tháng, trong đó, tháng cuối học viên đi thực tế giao lưu, tiếp xúc với người Mông. Kết quả thật đáng khích lệ, có đến 95% học viên giao tiếp tốt, 100% giao tiếp được. Từ thành công này, năm 2007, anh lại đề xuất với Sở Nội vụ và Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Thanh Hóa soạn bộ giáo trình mới trên cơ sở rút kinh nghiệm từ bộ giáo trình cũ. Là đội trưởng Đội vũ trang, ngoài những đợt tuần tra, đi công tác địa bàn, vừa lo xây dựng địa bàn, xây dựng đơn vị, thời gian còn lại anh tập trung vào sưu tầm và viết tài liệu một cách say mê. Bộ giáo trình mới này công phu hơn, gồm 67 bài đề cập toàn diện hơn, về cả chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học và bắt đầu được đưa vào giảng dạy cho cán bộ từ tháng 8-2008. Đáng chú ý là nội dung đi vào những vấn đề cụ thể, thiết thực như: Không hút, không trồng cây thuốc phiện; bác sĩ của người Mông; không di cư tự do… Chẳng hạn, trong bài Bác sĩ của người Mông lý giải ốm đau không phải do ma làm, cúng bái không thể khỏi bệnh mà phải đi mua thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Hạnh phúc đến với anh là bộ giáo trình mới này được Bộ Giáo dục - Đào tạo phê duyệt, là bộ chữ chuẩn được đồng bào Mông đánh giá cao. Trung tá, Phó đồn trưởng Đồn Na Mèo Lê Hữu Hùng nhận xét về Đội trưởng Thao Duy Lênh: “Đó là một cán bộ nhiệt tình, hội đủ các phẩm chất của người đảng viên, một người có năng khiếu sư phạm. Trước kia, chúng tôi có dạy tiếng Mông cho cán bộ nhưng tự phát, chưa bài bản, hệ thống, nay mới làm được”. Nhìn vóc dáng nhỏ nhắn, nước da xạm đen của người chiến sĩ biên phòng, không ai nghĩ đây lại là “Người thầy giáo” đam mê sáng tạo, miệt mài tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu, biên soạn thành công bộ giáo trình dạy và học chữ Mông, trở thành “nhà ngôn ngữ học”, “nhà sư phạm” của bà con dân tộc Mông, của cán bộ, chiến sĩ BĐBP tỉnh Thanh Hóa. Khi được hỏi về gia đình, anh tâm sự: Là con út trong một gia đình có 6 anh chị em, bố mẹ đã 80 tuổi; vợ ở nhà làm nương rẫy, chăn nuôi thêm mấy con bò, tần tảo nuôi 3 con ăn học. Giờ đây, chúng đang ở cái tuổi rất cần có sự gần gũi, chăm sóc của bố, trong khi cố gắng lắm một tháng mình mới đưa cho vợ được vài trăm ngàn đồng, thỉnh thoảng mới về qua nhà. Nói đến đó, anh dừng lại, đôi mắt thoáng chút ưu tư, nhưng rồi anh lại sôi nổi kể về những buổi đi tuần tra đường biên, cột mốc, nằm địa bàn; những câu chuyện cảm động về tình quân dân, những thành tích mà 7 năm liền anh đạt được bằng sự cố gắng của bản thân với sự giúp đỡ của đồng đội. Khi nói tới bộ giáo trình chữ Mông, anh mong muốn tiếp tục bổ sung, hoàn thiện để bộ giáo trình này không chỉ dùng ở Thanh Hóa mà có thể dùng cho đồng bào Mông cả nước.
Viết những dòng này, tôi bỗng nhớ lời Bác Hồ khi cho ý kiến về việc xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”. Đại ý Bác nói, số những người được tặng huân chương, huy chương chỉ là số ít so với hàng triệu người hằng ngày góp gió thành bão. Có tập thể vĩ đại ấy mới có Đảng ta vĩ đại. Người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý cái nền. Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình, muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng những việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng.
Nếu có lúc nào đó ta băn khoăn, day dứt, phân tâm bởi trong hàng ngũ chúng ta, ở đâu đó còn có những người không nghĩ tới sự cống hiến mà chỉ muốn hưởng thụ, những người coi vào Đảng là cầu thang để thăng quan, phát tài; những người chỉ lo vun vén cho lợi ích cá nhân mà không quan tâm, thậm chí chà đạp lên lợi ích chung, thì ta lại thấy vững tâm, tin tưởng và tự hào khi gặp không ít người đặt lợi ích chung lên trước lợi ích cá nhân, khi đến với các cán bộ, chiến sĩ - đảng viên BĐBP, thấy được sự chiến đấu hy sinh thầm lặng của họ, ngày đêm sát cánh cùng nhân dân các dân tộc, lấy “đồn là nhà, biên giới là quê hương” xây dựng lũy thép biên thùy, thế trận lòng dân bảo vệ Tổ quốc bình yên, vững mạnh.
Hà Thư