 |
|
NSND Quang Thọ biểu diễn trong chương trình giao lưu nghệ thuật Xuân dâng Đảng do Tạp chí Xây dựng Đảng phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện.
|
Khi biết tôi viết về NSND Quang Thọ, một người bạn đã nói: Đó là một nghệ sĩ có tài, một người thầy mẫu mực. NSND Quang Thọ như vỉa than đen lóng lánh âm ỉ cháy đượm trong suốt hơn 40 năm qua bằng chính chất giọng nam trung tuyệt vời. Tên tuổi anh gắn liền với những bài ca bất hủ “Người Hà Nội” (Nguyễn Đình Thi), “Biệt ly” (Doãn Mẫn), “Tình ca” (Hoàng Việt), “Lá đỏ” (Hoàng Hiệp và Nguyễn Đình Thi), “Tâm tình người thủy thủ” (Hoàng Vân), “Hướng về Hà Nội” (Hoàng Dương), “Trường ca sông Lô” (Văn Cao), “Ta tự hào đi lên, ôi Việt Nam!” (Chu Minh và Hoàng Trung Thông). Đặc biệt bài ca “Tôi là người thợ lò” (Hoàng Vân)… Quang Thọ được coi là một giọng ca opera xuất sắc của nền thanh nhạc Việt Nam. Tiếng hát của anh âm vang, hùng tráng như tiếng bước chân dồn dập băng đèo, lội suối của đoàn quân ra trận. Tiếng hát ấy đã từ hầm mỏ, át tiếng bom đạn ra chiến trường, từ đỉnh cao biên giới, vượt trùng khơi tới tuyến đầu hải đảo. Giờ đây, dù ở cương vị quản lý nhưng NSND Quang Thọ vẫn khát khao được hát. Anh từng tâm sự: Còn sống trên cuộc đời này còn hát, hát cho đến khi trái tim ngừng đập. Là lớp người đi trước, là người thầy, anh đang dành tâm huyết truyền lại những kinh nghiệm của mình cho học trò - lớp ca sĩ trẻ.
Anh sinh ra trong gia đình 3 đời làm thợ mỏ. Ông bà nội từ Hưng Yên, Thủy Nguyên (Hải Phòng) ra đặc khu Hòn Gai làm phu mỏ, sinh bố anh ở vùng mỏ, lớn lên bố anh cũng là thợ lò. Đến đời anh, gia đình đông con, học chưa hết lớp 10, anh đã phải từ bỏ mái trường phổ thông đi làm thợ mỏ cùng bố mẹ nuôi các em. Gia đình không một ai theo ca hát, nhưng cơ duyên khiến anh bắt đầu sự nghiệp ca hát từ rất sớm.
Anh bắt đầu sự nghiệp của mình từ vùng mỏ, vừa là người thợ, vừa là một ca sĩ nghiệp dư. Thời gian đầu, công việc của những ca sĩ nghiệp dư là phục vụ công nhân vùng than, đi các vùng biên giới, nông thôn Quảng Ninh phục vụ nhân dân trong tỉnh. Sau đó, anh cùng đội văn nghệ nghiệp dư Quảng Ninh có những chuyến biểu diễn ở tỉnh bạn; vào phục vụ quân và dân trong tuyến lửa Quảng Bình. Đó là những năm tháng đầy ắp kỷ niệm đáng nhớ. Đến năm 1971, anh lại được cùng đoàn văn nghệ tổng hợp của công nhân mỏ Quảng Ninh, gồm 14 người vào chiến trường 559 - đường mòn Hồ Chí Minh. Theo chân bộ đội vào chiến trường từ đầu 1971 đến cuối 1972, anh và đoàn đã đi suốt dọc đường Trường Sơn, rồi xuống B2 và từ đây rẽ sang Căm-pu-chia phục vụ đồng bào, chiến sĩ của ta và nhân dân nước bạn. Sau chuyến đi đó, khi trở về miền Bắc, anh được cử đi học ở trường Âm nhạc Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt của đời anh, chính thức bước vào hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp.
Nhớ lại những năm tháng chiến đấu hào hùng chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ cuối 1964, đầu 1965, Quảng Ninh là một trong những điểm bị không quân Mỹ oanh tạc ác liệt, bởi đây là trung tâm than lớn nhất cả nước. Tất cả các nhà máy, công trường sản xuất than, công nhân vừa sản xuất vừa chiến đấu đánh trả sự tấn công của không lực Hoa Kỳ.
Trong anh, vùng than ngày ấy vẫn là một vùng ký ức. Vất vả, gian khó nhưng ân tình. Đã bao nhiêu đêm anh thức trắng cùng những người thợ mỏ. Những ngày Mỹ dội bom ác liệt, không có điện, những băng chuyền cũng phải ngừng hoạt động. Nhưng những người thợ mỏ vẫn phăm phăm tay xẻng, tay cuốc, quyết cùng nhau bám trụ đảm bảo tiến độ tàu vào cảng ăn than. Trong những thời khắc đó, tiếng hát của anh đã góp sức xua đi những vất vả, nhọc nhằn. Đó cũng là sự tri ân của anh với những người thợ mỏ; bởi nếu không có sự cổ vũ, khích lệ của họ trong những ngày đầu ca hát, có thể anh đã không có được sự nghiệp thành danh hôm nay.
Anh vẫn còn nhớ buổi chiều ngày 5-8-1964 ấy. Đội văn nghệ của mỏ, trong đó có anh đang chuẩn bị phục vụ chiến sĩ tự vệ vừa sản xuất, vừa trực chiến thì có báo động máy bay Mỹ tập kích vùng Đông Bắc. Đây là lần đầu tiên anh được tận mắt chứng kiến cuộc chiến đấu bảo vệ vùng mỏ.
Sau đó, anh cùng đội văn nghệ đã có mặt biểu diễn trong hàng loạt trọng điểm khai thác than, phục vụ những đơn vị tự vệ, các đơn vị bộ đội phòng không… và cũng đã được chứng kiến không ít sự mất mát, hy sinh anh dũng của những người thợ, người chiến sĩ. Anh không thể quên cái lần đến phục vụ trung đoàn phòng không bảo vệ vùng trời đất Mỏ, được các chiến sĩ cổ vũ, khích lệ anh đã say sưa hát hết mình. Vậy mà chỉ sau đó không lâu, khi gặp lại ở chiến trường 559, 1/3 trong số họ đã chiến đấu và hy sinh anh dũng trên đỉnh Trường Sơn để bảo vệ con đường huyết mạch ra tiền tuyến. Những kỷ niệm đó, những ký ức đó luôn day dứt, lay động trái tim anh. Điều đó cũng lý giải vì sao những khi hát về người lính, về con đường Trường Sơn, hát về những năm tháng oanh liệt bảo vệ Tổ quốc, hình ảnh người lính luôn sống dậy trong anh.
NSND Quang Thọ không chỉ là một đỉnh cao của chất giọng nam trung vừa khỏe khoắn, vừa sâu lắng trữ tình… mà anh còn là một nhà giáo đã có những đóng góp quan trọng trong phát hiện và đào tạo những tài năng âm nhạc cho đất nước. Hơn mười năm gần đây, chuyển về công tác tại Nhạc viện Hà Nội, anh đã trực tiếp góp phần đào luyện nên những tên tuổi: Đức Long, Đăng Dương, Trọng Tấn, Việt Hoàn, Hoàng Tùng, Hoàng Thái, Tuấn Anh, Khánh Linh, Tùng Dương… Tuy phong cách biểu diễn của mỗi người có những nét sáng tạo riêng, nhưng giới chuyên môn và không ít công chúng âm nhạc vẫn nhận ra dấu ấn của Quang Thọ trong các học trò xuất sắc của anh. Và trong giây phút đăng quang tại các cuộc thi âm nhạc gần đây, nhiều ca sĩ trẻ đã nhắc đến thầy Quang Thọ với lòng biết ơn sâu sắc… ngoài việc dạy về kỹ năng ca hát, anh còn đặc biệt quan tâm dạy học trò phải hiểu được mình hát và làm nghệ thuật cho ai. NSND Quang Thọ tâm sự: Mình có thể có được cái của riêng mình nhưng cái riêng của mình không phải là tất cả. Phải có được cuộc sống chung trong cộng đồng, phải biết đem tiếng hát của mình đến với cộng đồng, với nhân dân. Như một danh nhân đã nói: Nếu tiếng hát mang đến từ trái tim cho mọi trái tim thì tiếng hát đó lại được trở lại trái tim của người nghệ sĩ. Không hiểu mình hát cho ai thì không thể có tiếng hát hay. Hát riêng cho mình, vì mình thì không thể có được tiếng hát truyền cảm, lay động lòng người.
Anh được xem là cây tre già trong làng nghệ thuật, được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý nhất dành cho nghệ sĩ, danh hiệu NSND mà tiêu chuẩn hàng đầu là thực sự trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân. Dù mới 3 tuổi đảng, chỉ là cây măng non của Đảng nhưng anh luôn tâm niệm từ năm 1964 bắt đầu cuộc đời người thợ mỏ, bắt đầu là ca sĩ nghiệp dư, anh đã đi theo tiếng gọi của Đảng, cống hiến sức lực của mình thực hiện lý tưởng của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Anh cảm thấy vinh dự được Nhà nước, được Đảng trao tặng danh hiệu cao quý, trao trách nhiệm với những công việc mà đòi hỏi người nghệ sĩ phải thực sự chân thành, phải có niềm tin với Đảng. Và, anh tự hào mình đã cố gắng hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ đó.
Thỏa mãn vốn là kẻ thù đối với những ai muốn vươn tới đỉnh cao của sự thành công mới. NSND Quang Thọ vẫn luôn phấn đấu không mệt mỏi, nỗ lực, miệt mài, dành tâm sức cho các thế thệ học trò thân yêu, góp phần đào tạo cho đất nước lớp ca sĩ - nghệ sĩ tương lai tài năng. Với tuổi 60 không còn trẻ nhưng vẫn chưa già, anh ấp ủ làm một bộ phim âm nhạc về Trường Sơn, về các chiến sĩ và thanh niên xung phong Trường Sơn. Và, cho đến bây giờ anh vẫn đang hát, hát mãi không thôi. Tiếng hát của anh vẫn vút cao và bay xa về quê hương, đất nước, về niềm kiêu hãnh “Ta tự hào đi lên, ôi Việt Nam” và về vùng Mỏ - nơi đã nuôi dưỡng và ươm mầm ca sĩ - nghệ sĩ cho anh:
“Tôi là người thợ lò sinh ra trên đất mỏ
Trong những ngày cờ đỏ bay trên núi Bài Thơ...
Núi Bài Thơ ơi, núi Bài Thơ
Sừng sững hiên ngang đứng giữa trời...”.
Hải Phong