Cuối năm 1974, Phạm Minh Thư giấu cha mẹ viết đơn tình nguyện đi bộ đội. Anh vừa nhập ngũ được ba tháng thì đất nước hoàn toàn giải phóng. Tháng 4-1979, anh lính trẻ Thư về nhận nhiệm vụ mới ở tiểu đoàn bảo dưỡng kỹ thuật sân bay Pleiku với nhiệm vụ bảo đảm bay cho các đơn vị quân đội, bay huấn luyện chiến đấu, bay phục vụ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và bảo đảm các chuyến bay kinh tế - xã hội khác. Điều khắc nghiệt và đặc biệt nhất là nơi đơn vị của anh đóng quân lại trên một kho bom đạn cũ của quân nguỵ. Sau ngày giải phóng, kho đạn đã được xử lý cho nổ nhưng chưa hết. Hàng tấn bom, đạn vung vãi và mìn phòng thủ dày đặc của chế độ cũ cài lại trên diện tích hơn 50 ha bao gồm cả vùng quân sự và khu dân cư ở Trà Đa - Pleiku đã để lại nhiều hậu quả thật khủng khiếp và đau xót. Tháng 8-1982, một phụ nữ đang mang thai ở Biển Hồ vào vành đai sân bay nhặt phế liệu đã bị vướng mìn nổ. Khi anh đến thì người mẹ đã chết, bụng bị xé rộng, cháu bé thoi thóp co đạp trong bụng mẹ. Anh đã cứu được cháu. Tháng 2-1991, Nguyễn Văn Phụng - một chiến sĩ của tiểu đoàn quê ở Quảng Bình, vướng phải bom cam bị chết. Phạm Minh Thư cùng đồng đội nhặt từng phần thân thể tan nát bó lại. Anh phải mượn của đồng chí quân y đơn vị một con lợn bán lấy tiền mua quan tài cho đồng đội. Rồi người chiến sĩ trẻ quê Hà Tĩnh chết mất cả hai chân, hai tay... Chỉ tính từ năm 1987 đến 1992 đã có 9 người chết, 30 người bị thương cụt chân tay hoặc mất một phần cơ thể. Nhiều đêm nằm lại đơn vị, tiếng lạng gỗ cọc cọc của những đồng đội trẻ tuổi bị thương vì bom đạn buộc lòng phải rời quân ngũ trở về quê hương cứ dội vào lòng anh như xé. Chẳng lẽ cứ nhìn đồng đội và người dân chết dần, chết mòn vì bom đạn, mà không có cách nào ư?
Hơn nữa, là phó bí thư chi bộ, chỉ huy trưởng sân bay, gắn bó sống chết với anh em, mỗi lần thấy một đồng đội bị nạn hay qua đời, Thượng tá Phạm Minh Thư thấy như mình bị cắt đi một phần thân thể. Chính anh cũng cảm nhận rõ ràng, mất mát đôi lúc đã làm anh em không yên tâm công tác. Đó có thể là nguy cơ lớn dẫn đến sự yếu kém của tiểu đoàn. Là người lãnh đạo, quản lý, tinh thần chiến đấu của anh em thực sự là điều làm anh trăn trở nhiều nhất. Tất cả những điều ấy luôn ám ảnh, thôi thúc anh hành động.
Năm 1991 anh đã gặp đồng chí Nguyễn Anh Tiễu, Giám đốc Trung tâm ứng dụng và xử lý vật liệu nổ thuộc Bộ Tư lệnh Công binh và trút gan ruột với người đồng đội về nỗi trăn trở cháy bỏng của mình và được anh Tiễu động viên, giúp đỡ. Sau khi làm thử, anh quyết định dấn thân để thu gom những quả bom mìn còn nằm lại trong lòng đất. Anh tâm sự: “Lúc ấy, nếu mình xin phép cấp trên, chưa chắc đã được chấp thuận. Hơn nữa, nếu để anh em bộ đội tham gia, cũng khó đảm bảo an toàn tính mạng. Đã quá nhiều người mất mát, hy sinh trên mảnh đất này rồi, mình không thể liều lĩnh với tính mạng của đồng đội…”. Vì thế, dẫu biết quyết định một mình tác chiến là liều lĩnh, nhưng Thư không thể khác. Cứ mỗi buổi chiều, hết giờ hành chính, khi mọi người trở về mái ấm của mình hoặc tỏa ra các ngả đường của phố núi, Phạm Minh Thư lại một mình, lặng lẽ, một tay chiếc gậy sắt và tay kia là ấm nước chè xanh đào bới từng thước đất. Từng ngày, từng ngày, bất kể ngày nghỉ, ngày lễ, anh lôi lên từ trong lòng đất hàng chục, hàng trăm quả bom, mìn, lựu đạn các loại. Mỗi ngày Thư ghi cảm giác về những phút giây đối diện với tử thần vào nhật ký. Những trang nhật ký đã trở thành người bạn duy nhất, sẻ chia với anh từng thời khắc ngẹt thở… “Ai cũng nghĩ đến sự sống, mình cũng vậy. Mình yêu cuộc sống này và không thể để cuộc sống của bất cứ người dân hay đồng đội kết thúc một cách vô nghĩa. Vì yêu cuộc sống này, mình sẽ đủ can đảm tiếp tục công việc. Cẩn trọng, cẩn trọng, mình sẽ tránh được tai hoạ…”. Ngoài một số anh em thân cận trong đơn vị, hầu như không ai biết sau giờ làm việc anh thường lang thang làm gì ngoài bãi đạn. Dù gia đình chỉ cách đơn vị có 5km, nhưng mãi đến năm 2003, trong một lần đơn vị tới chúc Tết, hé lộ, vợ anh mới hốt hoảng hỏi chồng về công việc anh làm.
Không thể kể hết số lần anh đã thoát nạn trong gang tấc. Mười mấy năm rà soát bom mìn, Thượng tá Phạm Minh Thư đã tháo gỡ được gần 18.000 đầu đạn các loại, cũng chừng ấy lần đối mặt với tử thần nhưng anh vẫn bình an vô sự. “Có phép nhiệm mầu chăng?”. Chúng tôi đặt câu hỏi. “Có thể là do may mắn. Tôi không còn nhớ đã bao lần bị tử thần “vồ hụt”, có những tình huống bây giờ nghĩ lại mồ hôi hột vẫn túa ra...”. Anh hồi hộp nhớ lại: “Lần đầu tiên tôi thoát chết là lần tháo quả đạn M79. Đang làm bỗng thấy cổ họng khô cứng khát chịu không nổi, nên đi uống nước. Vừa đi được hơn chục bước chân thì quả đạn phát nổ... Trời ạ! Nếu nán lại ít giây nữa thôi, có lẽ... Tiếp đến là lần đơn vị cày đất tăng gia, tôi phát hiện thấy quả bom bi đã bị biến dạng nằm lộ trên mặt đất. Thấy lạ, tôi cầm lên xem, nhưng chợt nghĩ phải cảnh giác với thứ “của nợ” này. Đúng như linh tính mách bảo, quả bom phát nổ khi tôi vừa ném ra khoảng 20 mét, chưa kịp chạm mặt đất. Lần kế tiếp là hôm tháo quả mìn râu tôm được lính ngụy cài bảo vệ quanh khu căn cứ. Tháo xong quả mìn, tôi dùng tay giật mạnh những sợi râu tôm cắm sâu trong lòng đất. Giật mãi mà thấy nó cứ “nằm ỳ” nên đành phải dùng cuốc khoét cho miệng hố rộng ra. Đến đây tôi mới phát hiện thấy một chùm lựu đạn cài chung với những sợi râu tôm. Hú hồn, hú vía. Lúc ấy chỉ cần một sợi râu tôm bất kỳ nào đó bung lên, chết là chắc”.
Mỗi lần đi ra bãi đạn là Thư lại gấp sổ sách, giấy tờ cẩn thận, viết nội dung kế hoạch vào tờ giấy trên bàn để nếu anh không trở về, mọi người biết còn tiếp tục công việc. Sau nhiều năm quăng quật không ngưng nghỉ với đạn bom, đôi chân, bàn tay anh trở nên sần sùi, chai sạn.
Tháo gỡ bom mìn đã khó, vận chuyển đến nơi tiêu hủy còn khó gấp bội phần. “Phải biết cách nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Đến cả con cái mình lúc sơ sinh cũng không được bồng bế nhẹ nhàng như thế. Giờ mình thuộc lòng từng kiểu dáng mỗi trái bom...”.
Sau 13 năm, từ 1992 đến 2005, vượt qua chồng chất những gian khổ, khó khăn, đối mặt với cái chết từng ngày, từng phút, đào tìm từng gốc cây, bụi cỏ trong đống đổ nát của chiến tranh, anh đã đào được gần 18.000 quả bom mìn các loại như bom MK82, bom BLV-66/B, BLV-46/B (bom cam), bom bi, rốc-két, đạn cối và các loại mìn khác. Số này đã được Trung tâm công nghệ xử lý bom mìn của Bộ Tư lệnh Công binh giải quyết an toàn tại sân bay Pleiku.
Hôm nay, trên vùng đất ven đô của thành phố Pleiku, nơi trước đây là kho đạn bom của địch, là chết chóc đau thương, hơn 50 ha đã sạch sẽ, an toàn. Thượng tá Phạm Minh Thư đã vận động đồng đội cùng mình mua giống trồng được trên 100 ha bạch đàn. Bạch đàn của Minh Thư và đồng đội giờ đây xanh mướt, lao xao trong nắng gió cao nguyên trên vùng đất chết ngày xưa. Chính anh đã mang lại sự sống, niềm tin, hy vọng và hạnh phúc cho người dân và cho đồng đội của mình.
Chiến công là thế nhưng có lẽ chẳng ai biết đến tên anh, đến việc làm của anh nếu không có đoàn rà phá bom mìn của Bộ Tư lệnh Công binh trong chuyến công tác Tây Nguyên kiểm tra đơn vị của anh. Đoàn đã đề nghị khen thưởng anh Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 21-12-2005, Thượng tá Phạm Minh Thư, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo đảm kỹ thuật sân bay Pleiku được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Hai mươi năm sau ngày đất nước đổi mới, Quân chủng Phòng không - Không quân đã có người anh hùng đầu tiên.
Chia tay với cánh rừng bạch đàn, với màu xanh bất diệt trên cao nguyên, tháng 12-2006, Thượng tá Phạm Minh Thư chuyển về Bảo tàng Quân chủng Phòng Không - Không quân. ở vị trí công tác mới, người anh hùng Phạm Minh Thư như là một gạch nối giữa quá khứ và tương lai. Ngày ngày, anh cùng đồng đội tiếp lửa cho thế hệ trẻ hôm nay để họ thấy được quá khứ hào hùng của lực lượng Không quân, tự hào và sống trách nhiệm hơn với tương lai. Thi thoảng, trong câu chuyện với các đồng nghiệp trẻ, anh hồi tưởng lại những giây phút cận kề cái chết và lòng thầm hát: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai…”
Văn Nguyễn