Gương đảng viên
Cõng chữ Bác Hồ lên vùng cao
19:6' 7/11/2006


Trên mọi nẻo đường đất nước - từ những thành phố sôi động đến các bản vùng cao xa xôi, những bản, ấp vùng sâu vùng xa vẫn luôn có những thầy giáo, cô giáo, những người đảng viên, giáo viên lặng lẽ ngày đêm tận tuỵ với nghề “trồng người”, truyền đạt kiến thức cho lớp lớp đàn em nhỏ, thắp lên những ước mơ của thế hệ tương lai. Nhân kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, cộng tác viên của Tạp chí Xây dựng Đảng giới thiệu với bạn đọc cả nước về ba tấm gương bình dị, hết lòng vì học sinh thân yêu.

 

Người thắp sáng phong trào học tập

 

Danh hiệu ấy thật xứng đáng dành cho người đảng viên trẻ Nguyễn Văn Chung, Hiệu trưởng trường THCS xã Tả Phìn. Nhắc đến Tả Phìn, không ít người còn e ngại về một vùng đất đầy khó khăn, gian khổ trên cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang. Đây là một xã vùng ba, với 100% đồng bào Mông sinh sống, diện tích gieo trồng rất ít, không có ruộng làm lúa nước. Năm năm về trước, Tả Phìn còn trên 50% số hộ đói nghèo, thậm chí có nhà “đứt bữa” hằng tháng. Vì vậy, không cho con cái đi học chữ, đối với đa phần gia đình người Mông là việc bình thường. Bởi trong suy nghĩ thường trực của họ cũng thật đơn giản: “Học cũng ăn ngô, không học cũng ăn ngô”.

Năm 2003, được phân công về làm Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng trường THCS Tả Phìn, chứng kiến thực tế này, thầy Chung bứt rứt không yên trong lòng, luôn thôi thúc ý nghĩ nhất định phải tìm cách giúp các em nhỏ ở đây thoát khỏi thất học, để tương lai của các em không lặp lại cuộc sống đói cơm, dốt chữ mà cha mẹ các em đã từng phải gánh chịu. Sau nhiều đêm trăn trở, thầy giáo Chung đã bàn bạc, tham mưu để Đảng uỷ xã ra nghị quyết về công tác giáo dục và vận động cán bộ, đảng viên đi học bổ túc văn hoá tại huyện để làm gương cho con em mình. Nhờ đó, đến nay đội ngũ cán bộ xã Tả Phìn đều đã học hết THCS và 30% số cán bộ đó đang theo học tiếp THPT và trung cấp chính trị tại huyện và tỉnh. Nhưng với thầy giáo Chung, thành quả lớn nhất là đã góp phần làm thay đổi nhận thức của bà con người Mông nơi đây về việc học hành của các em nhỏ. Từ phong trào học tập của đội ngũ cán bộ xã, phong trào học tập của trẻ em ở Tả Phìn bắt đầu khởi sắc. Từ năm học 2003-2004 đến nay, Tả Phìn luôn là điểm sáng trong toàn huyện.

Hằng ngày, chứng kiến nhiều em cõng sách đi bộ cả giờ qua những vách núi cheo leo để đến lớp đúng giờ, thầy Chung vừa vui, vừa rất thương! Có cách nào để các em đỡ vất vả, không phải đi học xa? Anh lại cùng tập thể cán bộ, giáo viên nhà trường thực hiện thử nghiệm mô hình bán trú dân nuôi tại xã. Anh tham mưu để Đảng uỷ, chính quyền xã thành lập lớp và trực tiếp chỉ đạo hoạt động. Để có cơ sở vật chất và lương thực nuôi học sinh, anh đề xuất với thường trực HĐND xã ra nghị quyết chuyên đề về mở lớp bán trú dân nuôi và quy định về việc đóng góp của nhân dân, cán bộ, giáo viên để đảm bảo tốt đời sống cho học sinh. Bản thân anh đã cùng Ban giám hiệu và các thầy cô giáo trong trường không ngại khó, ngại khổ, ngày đêm bám trường, bám lớp, nắm chắc tình hình của mỗi lớp, mỗi em học sinh. Anh cùng giáo viên của trường xuống từng hộ gia đình, vận động, tuyên truyền và thuyết phục các bậc phụ huynh chung sức, chung lòng, quyết tâm duy trì hoạt động của các lớp. Đặc biệt, thầy hiệu trưởng Chung còn viết những bản tin, biểu dương những xóm hoạt động tốt, những em học sinh có kết quả học tập cao… để phát trên đài truyền thanh xã và đọc trong các buổi họp thôn, xóm. Điều này đã khích lệ tinh thần học tập của các em học sinh và các bậc phụ huynh. Đội ngũ giáo viên tuy còn khó khăn, nhưng với sự đồng cảm, yêu thương học trò, thầy Chung chủ động vận động và nêu gương cùng các thầy cô giáo đóng góp từ tiền lương của mình để mua lương thực, thực phẩm nuôi các em ăn học. Nhờ những tấm lòng nhiệt thành như thầy giáo Chung, nhiều hộ trong xã đã tích cực làm theo và lôi cuốn bà con bản làng đóng góp. Tâm huyết của thầy Chung và các thầy, cô trong trường đã đem lại sự tin cậy trong nhân dân. Nếu năm học 1999-2000, số tiền đóng góp và hỗ trợ của phụ huynh học sinh chỉ là 15 triệu đồng thì đến năm học 2003-2004 đã là 82 triệu đồng và năm học 2004-2005 là hơn 100 triệu đồng. Không những thế, nhân dân trong xã còn đóng góp hàng ngàn ngày công để xây dựng sân trường bê tông, tu sửa bàn ghế và các điểm trường. Các em có đủ trường, lớp, có điều kiện tốt để ăn ở, học hành; nhiều gia đình đã không còn thấy việc học hành của con cái như một gánh nặng, nên động viên con em mình đến trường. Đến nay, tỉ lệ học sinh theo học ở xã đạt trên 98%. Tại trung tâm xã luôn có từ 200 đến 250 em theo học các lớp bán trú dân nuôi. Năm 2004, Tả Phìn đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Thầy Chung tâm sự: “Người thầy giáo vùng cao như mình, được nhìn thấy các em học sinh đến trường đều đặn là hạnh phúc lớn lao nhất!”.

Để duy trì hoạt động của các lớp bán trú dân nuôi có chất lượng tốt, tạo điểm tựa vững chắc cho các em học sinh ở lại, yên tâm học tập, Chi bộ Nhà trường đã lãnh đạo Ban giám hiệu đề ra quy chế hoạt động cụ thể, quy định rõ trách nhiệm của từng giáo viên về bám lớp, bám điểm để giảng dạy và vận động học sinh theo học. Là Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng Nhà trường, thầy Chung luôn gương mẫu thực hiện trước. Mặc dù gia đình ở trung tâm huyện Đồng Văn chỉ cách trường 12km, đường đi thuận tiện, nhưng thầy vẫn ở lại trường để theo dõi sát mọi hoạt động của các lớp học. Thầy còn đề xuất với Đảng uỷ, chính quyền xã dành quỹ đất để nhà trường làm vườn, trồng rau xanh, nuôi lợn cải thiện bữa ăn cho học sinh. Những nỗ lực của thầy Chung và tập thể giáo viên nhà trường đã được đền đáp xứng đáng. Từ năm học 2004-2005, Tả Phìn đã có học sinh giỏi và giáo viên giỏi cấp huyện. Đến Tả Phìn hôm nay, không còn nữa cảnh trường vắng vẻ, lớp thiếu học sinh, thầy không có trò. Thay vào đó là những lớp học đông vui, nhộn nhịp học sinh theo học. Những thành quả đó, có công lao của thầy Hiệu trưởng, Bí thư chi bộ Nguyễn Văn Chung, một người con quê hương xứ Thanh đã tình nguyện cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp trồng người ở vùng cao.

 

                 Vũ Đình Giáp

   Huyện uỷ Đồng Văn, Hà Giang

 

 DẠY CHỮ

 DẠY NGƯỜI

 

Tốt nghiệp Khoa Văn - Sử (Đại học Sư phạm Vinh) năm 1976, với bằng loại Giỏi, thầy giáo Nguyễn Xuân Thiều tình nguyện ngược đường lên với bà con các dân tộc miền núi Tây Bắc của Tổ quốc, dạy học tại trường THPT Thuận Châu (Sơn La). Trong quá trình giảng dạy, thầy luôn cố gắng tìm ra những phương pháp dạy hay, phù hợp với đặc điểm, tâm lý tiếp nhận của học sinh miền núi. Với tấm lòng yêu nghề, say mê công việc, cùng với sự khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm của những đồng nghiệp đi trước, chịu khó nghiên cứu sưu tầm những tài liệu phục vụ cho giảng dạy, tìm cách nhanh chóng tiếp cận, gần gụi, trò chuyện để hiểu thêm thói quen, tâm lý lứa tuổi của thanh thiếu niên vùng cao; nhờ thế, thầy Thiều truyền thụ giúp học sinh của mình nắm kiến thức một cách nhanh nhất. Thầy xác định: “Đã làm thầy giáo phải nắm vững tâm lý của học trò, biết chung vui với niềm vui của các em, biết san sẻ động viên khi các em gặp khó khăn, buồn phiền”. Nhờ vậy, những ngày làm giáo viên ở trường THPT Thuận Châu, thầy Thiều luôn được học trò tin tưởng, chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống. Quãng thời gian trực tiếp giảng dạy tuy chưa nhiều, nhưng với thầy Thiều, đó là những kỷ niệm không thể nào quên… Nó đã giúp thầy thấm thía hơn rằng, là người thầy, không chỉ truyền đạt kiến thức mà quan trọng hơn là dạy cho học trò trở thành một con người hữu ích cho xã hội.

Năm 1996, thầy Thiều nhận phân công làm Trưởng phòng Giáo dục - Đào tạo huyện Thuận Châu. Thấu hiểu hoàn cảnh thiếu thốn về vật chất của một huyện miền núi, đời sống của học sinh và giáo viên còn nhiều khó khăn, hằng tháng, thầy dành thời gian thường xuyên đi xuống cơ sở, nắm tình hình, động viên thầy trò ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người như Mông, Dao, La Ha… ở các xã  Pá Long, Co Tòng, Long Hẹ, Mường Pán…, đặc biệt là những xã nằm trong vùng Dự án tái định cự Thuỷ điện Sơn La như Liệp Tè, Mường Khiêng, Bó Mười…

Trong vai trò là trưởng phòng Giáo dục, thầy chủ động đề xuất với UBND huyện mở rộng mạng lưới trường, lớp, tăng tỉ lệ huy động ở các bậc, ngành học, tách hầu hết các trường “liên cấp” thành các trường tiểu học, trường THCS và trường mầm non độc lập. Trong chỉ đạo, thầy quan tâm đến xây dựng lớp học ở trung tâm xã, trung tâm cụm bản, đảm bảo số lượng học sinh trên lớp đủ quy định. Thầy vận dụng hài hoà chương trình hỗ trợ, giáo dục với chính sách phát triển kinh tế-xã hội để giúp đỡ 52 bản đặc biệt khó khăn trong huyện phát triển sản xuất, ổn định đời sống gắn với phát triển giáo dục.

Trong chỉ đạo thực hiện, thầy luôn “lấy người tốt, việc tốt để khẳng định chân lý, lấy điển hình tiên tiến xuất sắc để thúc đẩy trung bình, yếu kém vươn lên, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực” và do đó đảng viên - thầy giáo Nguyễn Xuân Thiều đã góp phần không nhỏ nhân điển hình, nhân lên sức mạnh và thắng lợi của ngành giáo dục Thuận Châu nói riêng và của tỉnh Sơn La nói chung… Là đảng viên hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, thầy Thiều luôn ý thức rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện tốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực này. Đặc biệt, sau khi có Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15-6-2004 của Ban Bí thư Trung ương về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, thầy chú trọng việc vận dụng phù hợp ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của huyện. Một mặt, chú ý lựa chọn những học sinh giỏi xây dựng điển hình ở các bậc học, qua đó chuẩn bị những đội tuyển học sinh giỏi của huyện hằng năm. Mặt khác, thầy coi trọng phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, cùng các ngành trong huyện thực hiện tốt việc xã hội hoá giáo dục, quản lý và sử đúng mục đích các nguồn vốn của các chương trình phát triển giáo dục như chương trình “kiên cố hoá trường học”, tích cực vận động nhân dân tham gia đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà ở cho học sinh và giáo viên tại các trường bán trú… Phấn đấu để các trường trong huyện đều đạt tiêu chuẩn “trường có cảnh quan xanh, sạch, đẹp”; hoàn thành tốt phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục trung học đúng độ tuổi đối với tất cả các trường học ở các xã vùng hai và vùng ba… Thầy đề xuất nhiều hình thức thi đua, khen thưởng, động viên, khích lệ tinh thần thi đua dạy và học của thầy trò các trường trong toàn huyện.

20 năm làm Trưởng phòng Giáo dục huyện Thuận Châu, 10 năm liên tục đảm nhiệm vai trò bí thư chi bộ Cơ quan phòng Giáo dục huyện, đảng viên - thầy giáo Nguyễn Xuân Thiều luôn chú trọng công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ, giáo viên  cho tất cả các cấp, bậc học, đảm bảo tính toàn diện, lâu dài, tránh tình trạng thiếu hụt giáo viên như một số vùng cao vẫn gặp. Thầy đặc biệt chú ý quy hoạch đội ngũ giáo viên là người tại chỗ, là con em dân tộc ít người tại địa phương. Đồng thời, phối hợp với các ban, ngành và cấp ủy cơ sở chăm lo việc giáo dục bồi dưỡng tư tưởng, nâng cao nhận thức chính trị cho hơn 2.500 giáo viên toàn huyện, phối hợp với cấp ủy cơ sở nâng cao chất lượng lãnh đạo của các chi bộ nhà trường, coi trọng tự phê bình và phê bình thường xuyên của những đảng viên giáo viên.

Gần 30 năm cống hiến tuổi trẻ và trí tuệ cho sự nghiệp giáo dục của huyện miền núi Thuận Châu, thầy giáo - đảng viên Nguyễn Xuân Thiều xứng đáng với niềm tin yêu của đồng nghiệp, của lớp lớp học sinh và của bà con các dân tộc huyện vùng cao này.

                                                                NGUYỄN VĂN TRỢ

                                                                Thuận Châu, Sơn La

 

YÊU NGHỀ  BAO NHIÊU CÀNG YÊU TRÒ BẤY NHIÊU

 

Năm 1983, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Hà Bắc, cô giáo Ngô Thị Bản tình nguyện đem ánh sáng văn hoá lên miền núi, đem “cái chữ” đến với đồng bào dân tộc ít người ở rẻo cao Lục Ngạn. Bốn năm (1983-1987) công tác tại trường THCS Phong Vân là những năm khởi đầu nghề nghiệp, cũng là những năm tháng tuổi trẻ thực sự có ý nghĩa. Dù xa nhà lại nuôi con nhỏ, cô vẫn dồn tâm huyết của mình cho đàn em thơ, gieo con chữ cho con em đồng bào các dân tộc Tày, Dao, Cao Lan… Ngày ngày, cùng ăn, cùng ở, cùng chung sống với bà con vùng cao, cô càng thấu hiểu những khó khăn, vất vả mà các em học sinh phải trải qua để có thể đến trường đều đặn. Điều đó, càng thôi thúc cô gắn bó với nghề.

Năm 1987, cô được chuyển về dạy học tại quê hương huyện Tiên Sơn (Hà Bắc cũ). Suốt 13 năm (1987-2000) công tác tại trường Trung học cơ sở xã Phú Lâm, cô đã nỗ lực phấn đấu không ngừng, liên tục là giáo viên dạy toán giỏi của huyện, của tỉnh, góp phần tích cực đưa trường Phú Lâm trở thành trường tiên tiến xuất sắc của huyện. Nhiều năm đứng trên bục giảng, truyền đạt kiến thức cho lớp lớp học trò, cô Bản càng thấu hiểu, là người giáo viên, có năng lực chuyên môn giỏi chưa đủ, mà còn cần có lòng nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm và tình yêu thương vô bờ đối với học trò, với thế hệ trẻ, tương lai của đất nước. Năm 1999, huyện Tiên Sơn chia thành hai huyện Từ Sơn và Tiên Du. Trường THCS Tiên Du được xây dựng trở thành trường chất lượng cao của toàn huyện, cô Bản được điều về nhận trách nhiệm Phó hiệu trưởng Nhà trường, phụ trách chuyên môn và năm 2000 cô được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng. Khi đảm nhiệm vai trò người đứng đầu, cô luôn ý thức rõ trách nhiệm, phấn đấu lao động không ngừng nghỉ để cùng tập thể giáo viên đưa trường THCS Tiên Du trở thành đơn vị lá cờ đầu giáo dục phổ thông cơ sở của huyện, của tỉnh. Bằng sự nỗ lực của lãnh đạo nhà trường và được huyện uỷ, HĐND, UBND huyện đầu tư, trường THCS Tiên Du được xây dựng khang trang, to đẹp hơn với 12 phòng học, đảm bảo cho hơn 500 học sinh học hai ca và bốn phòng chức năng được trang bị đầy đủ các thiết bị dạy và học. Cô Bản hiểu rằng, trang bị cơ sở vật chất tốt là tiền đề quan trọng giúp nâng cao chất lượng dạy và học của thầy và trò nhà trường. Đồng thời với việc đầu tư trang thiết bị, cô đã cùng lãnh đạo nhà trường đặc biệt chú trọng chăm lo việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên - những người trực tiếp truyền đạt kiến thức cho học sinh. Do vậy, từ năm 2000 đến nay, 5 năm liền, trường THCS Tiên Du liên tục đạt danh hiệu tiên tiến xuất sắc của tỉnh, trường chuẩn quốc gia giai đoạn một và đang phấn đấu đạt trường chuẩn quốc gia giai đoạn hai. Nhà trường có nhiều học sinh giỏi đạt giải cấp tỉnh, cấp quốc gia, hơn 85% học sinh của trường xếp loại học lực từ khá trở lên. Đối với cô Bản hiệu trưởng, trường chính là ngôi nhà thứ hai của cô. Mỗi kết quả, thành tích của học trò, mỗi thành công, chuyển biến của nhà trường đều mang đến niềm vui, niềm hạnh phúc cho cô; cô coi những bước trưởng thành của nhà trường, của đồng nghiệp như của chính người thân trong nhà. Cô tâm sự: “Là hiệu trưởng ở một trường trọng điểm của huyện, vừa dạy, vừa nuôi bán trú, quản lý các em tại trường nên công việc khá vất vả. Song với tất cả tinh thần “vì học sinh thân yêu” mình cùng tập thể cán bộ, giáo viên của trường luôn cố gắng bám trường, bám lớp, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.”

Những nỗ lực của Hiệu trưởng Bản và tập thể cán bộ, giáo viên nhà trường đã được đền đáp xứng đáng. Sáu năm liền (1999-2005) trường THCS Tiên Du đều được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và UBND tỉnh tặng bằng khen. Cô được nhận Bằng khen của Thủ tưởng Chính phủ vì thành tích xuất sắc trong công tác.

Ở trường, cô là cô giáo hiền của đàn em thân yêu, là bí thư chi bộ, hiệu trưởng gương mẫu, trở về với cuộc sống thường nhật, cô vẫn phải đối diện với không ít khó khăn của một gia đình nông thôn. Tuy vậy, cô vẫn luôn tự động viên mình và gia đình vượt lên khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với nghề cao quý Trồng Người mà Đảng và nhân dân giao phó.

                                                                               Sơn Trà

                                                                Đài PT Tiên Du - Bắc Ninh  

 

Bài cùng chuyên mục
Ánh sáng từ trái tim    (19/4/2007)
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS